1. Tổng quan
Tên khác: Cỏ cứt lợn, Hoa ngũ sắc, Bù xít.
Tên khoa học: Ageratum conyzoides L.
Họ: Asteraceae (họ Cúc).
Tên dược liệu: Cỏ cứt lợn – Herba Agerati conyzoides.
2. Mô tả
Cây thảo sống hằng năm, cao khoảng 20–70 cm, thân hình trụ, mọc đứng hoặc hơi bò, phân nhiều cành, toàn cây có lông mềm và có mùi đặc trưng khi vò.
Lá mọc đối, phiến lá hình trứng đến hình tam giác–trứng, dài khoảng 2–6 cm, đầu nhọn, gốc tù hoặc hình nêm, mép có răng tròn; hai mặt đều có lông, thường có 3 gân chính tỏa từ gần gốc lá.
Cụm hoa hình đầu nhỏ, tập hợp thành ngù ở ngọn thân và đầu cành. Hoa đều hình ống, màu tím nhạt, xanh tím hoặc trắng. Quả bế nhỏ, màu đen, có 5 sống dọc; phía đỉnh mang các vảy của mào lông.
3. Đặc điểm vi phẫu
Lá: Gân lá lồi về 2 phía, lồi nhiều về phía dưới. Biểu bì gồm tế bào hình tròn, mang lông che chở đa bào. Sát lớp biểu bì là hàng tế bào mô dày tròn; mô mềm hẹp. Bó libe-gỗ nằm chính giữa, xếp vòng cung uốn theo gân lá (lồi nhiều về phía dưới). Tế bào libe nhỏ, xếp xung quanh gỗ. Mạch gỗ đều xếp thành hàng. Biểu bì phiến lá mang nhiều lỗ khí; hàng tế bào mô giậu không rõ.
Thân: Biểu bì gồm 1 đến 2 hàng tế bào hình bầu dục nằm ngang, xếp sít nhau mang lông che chở đa bào. Dưới lớp biểu bì là 2 đến 3 hàng tế bào mô dày. Mô mềm vỏ hẹp. Rải rác sau mô mềm vỏ là đám tế bào mô cứng. Libe hẹp ở ngoài, gỗ ở trong. Bó gỗ xếp thành vòng tròn, những chỗ lồi bên trong ứng với đám mô cứng ở bên ngoài. Mạch gỗ to nằm rải rác, tập trung nhiều ở những chỗ lồi. Mô mềm gỗ hình chữ nhật, xếp thành hàng. Tầng phát sinh libe-gỗ uốn lượn thành vòng tròn. Tế bào mô mềm ruột to, tròn, thành mỏng.
4. Đặc điểm bột dược liệu
Bột màu lục vàng, mùi thơm, vị hơi cay. Soi bột dược liệu dưới kính hiển vi thấy: Mảnh biểu bì lá gồm các tế bào thành mỏng chứa nhiều lỗ khí. Lông che chở đa bào. Mảnh mô mềm gồm các tế bào hình đa giác, thành mỏng. Mảnh mạch vạch, mạch xoắn. Hạt phấn hoa hình cầu gai, đường kính từ 15 µm đến 25 µm, màu vàng nhạt. Mảnh nhụy hoa có đầu tròn, kết lớp lên nhau. Mảnh cánh hoa cấu tạo bởi những tế bào thành mỏng, bề mặt sần sùi, có chất tế bào. Sợi đứng riêng lẻ hoặc tập trung thành bó. Các bó sợi có mấu lồi nhọn.
5. Phân bố, sinh học và sinh thái
Cỏ hôi có nguồn gốc từ Mexico, hiện đã phát tán và trở thành loài mọc tự nhiên rộng rãi ở nhiều vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
Ở nước ta, cây gặp phổ biến từ đồng bằng đến miền núi, thường mọc ở ven đường, bờ ruộng, bãi đất trống, ven rừng và những nơi đất ẩm, có nhiều ánh sáng. Cây sinh trưởng nhanh và có khả năng phát tán mạnh bằng hạt.
6. Bộ phận dùng, thu hái, chế biến
Phần trên mặt đất được dùng làm thuốc, có thể sử dụng tươi hoặc phơi, sấy khô.
Có thể thu hái quanh năm, tốt nhất khi cây vừa ra hoa. Sau khi thu hái, loại bỏ tạp chất, rửa sạch rồi dùng tươi hoặc phơi trong bóng râm, sấy ở nhiệt độ khoảng 30–40 °C đến khô.
7. Thành phần hóa học
Cỏ hôi chứa tinh dầu, chromen, flavonoid, terpenoid, sterol và alkaloid. Tinh dầu là nhóm thành phần đáng chú ý; các mẫu thu tại Việt Nam được ghi nhận chứa nhiều precocene II, β-caryophyllene và precocene I.
Hai thành phần tiêu biểu là:
-
Precocene II: một chromen đặc trưng của tinh dầu, được ghi nhận có hoạt tính giảm đau và kháng khuẩn trong các nghiên cứu tiền lâm sàng.
-
β-Caryophyllene: sesquiterpen có tác dụng chống viêm và giảm đau, liên quan một phần đến hoạt hóa thụ thể cannabinoid CB₂ và điều hòa các chất trung gian gây viêm.
8. Tác dụng dược lý – Công dụng
Các nghiên cứu thực nghiệm ghi nhận Cỏ hôi có các tác dụng chống viêm, giảm đau, kháng khuẩn, chống oxy hóa và hỗ trợ lành vết thương; phần lớn các bằng chứng dược lý hiện nay vẫn ở mức tiền lâm sàng.
Theo Dược điển Việt Nam, Cỏ hôi có công năng chỉ huyết, tiêu viêm; được dùng trong các trường hợp băng huyết, rong huyết, đa kinh, chảy máu cam, chảy máu chân răng, viêm mũi và viêm xoang mũi dị ứng.
9. Cách dùng, liều lượng
Ngày dùng 10 – 30 g dược liệu khô hoặc 30 – 50 g dược liệu tươi.
Dùng tươi: Thêm ít muối, giã nát, vắt lấy nước cốt, uống khi bị xuất huyết, hoặc băng kinh, băng huyết; hoặc giã lá tươi vắt lấy dịch, nhỏ vào lỗ mũi khi viêm xoang. Ngoài ra còn dùng dưới dạng thuốc sắc uống. Hiện nay, hoa ngũ sắc còn được điều chế dạng thuốc xịt, trị viêm xoang mũi dị ứng hoặc viêm mũi mạn tính. Dùng ngoài, cây tươi nấu nước gội đầu, tắm ghẻ.


