
1. Tổng quan
Tên khác: Artichaut (Pháp), Artichoke (Anh).
Tên khoa học theo DĐVN VI: Cynara scolymus L.
Tên hiện được Plants of the World Online (POWO) chấp nhận: Cynara cardunculus subsp. cardunculus.
Họ: Asteraceae (họ Cúc).
Tên dược liệu: Lá Actisô – Folium Cynarae scolymi.
Cynara scolymus L. là tên được sử dụng phổ biến trong các tài liệu dược liệu và dược học. Theo hệ thống phân loại hiện hành của Plants of the World Online (POWO), tên này được xem là đồng nghĩa của Cynara cardunculus subsp. cardunculus.
2. Mô tả
Cây thảo lớn, sống hai năm hoặc lâu năm, cao khoảng 1–1,2 m, có thể cao đến 2 m. Thân mọc thẳng, cứng, có khía dọc và phủ lông trắng.
Lá mọc so le, kích thước lớn; phiến lá xẻ thùy sâu hình lông chim, mép thùy có răng cưa lớn, đầu răng thường mang gai nhỏ và mềm. Mặt trên lá màu xanh lục, mặt dưới phủ nhiều lông trắng xám; gân lá nổi rõ.
Cụm hoa hình đầu lớn, mọc ở ngọn thân hoặc đầu cành. Lá bắc của tổng bao rộng, dày, đầu nhọn. Đế cụm hoa nạc, mang nhiều hoa hình ống màu tím đến tím lam. Phần đế hoa và gốc các lá bắc non có thể dùng làm thực phẩm.
Quả bế, nhẵn, màu nâu sẫm, phía đỉnh mang mào lông màu trắng.
Mùa hoa quả: Khoảng tháng 12 đến tháng 2 ở điều kiện trồng thích hợp tại Việt Nam.
3. Đặc điểm bột dược liệu
Bột lá: Mảnh biểu bì phiến lá gồm các tế bào hình nhiều cạnh, có lỗ khí và lông che chở. Mảnh biểu bì vùng gân lá gồm các tế bào hình chữ nhật, thành mỏng. Có thể gặp mảnh mô mềm, mạch xoắn, mạch vòng, mạch vạch và mạch mạng. Rải rác có các khối chất màu nâu với kích thước không đồng đều.
4. Phân bố, sinh học và sinh thái
Actisô có nguồn gốc ở khu vực Địa Trung Hải và hiện được trồng tại nhiều nơi trên thế giới để làm thực phẩm và dược liệu.
Ở Việt Nam, cây được di thực và trồng chủ yếu tại những vùng có khí hậu mát như Đà Lạt, Sa Pa và Tam Đảo; cây cũng có thể được trồng ở một số vùng đồng bằng vào mùa có nhiệt độ thích hợp.
Actisô ưa khí hậu mát, nhiều ánh sáng, đất màu mỡ, tơi xốp, giàu chất hữu cơ và thoát nước tốt.
5. Bộ phận dùng, thu hái, chế biến
Lá (Folium Cynarae scolymi) là bộ phận được sử dụng chủ yếu làm dược liệu. Lá có thể thu hái nhiều lần trong thời kỳ sinh trưởng, thường chọn các lá đã phát triển đầy đủ. Sau khi thu hái, rọc lấy phiến lá, rửa sạch rồi dùng tươi hoặc phơi, sấy khô.
Cụm hoa đầu được thu hái khi còn non, chưa nở hoàn toàn; chủ yếu được sử dụng làm thực phẩm. Cụm hoa có thể dùng tươi hoặc được chế biến, sấy khô để sử dụng làm trà và các sản phẩm thực phẩm.
Ngoài lá và cụm hoa, thân và rễ cũng được sử dụng trong một số kinh nghiệm dân gian.
6. Thành phần hóa học
Lá Actisô chứa chủ yếu các dẫn xuất caffeoylquinic acid và flavonoid. Các hợp chất tiêu biểu gồm acid chlorogenic, cynarin (1,3-dicaffeoylquinic acid), cynarosid và scolymosid. Ngoài ra, lá còn chứa các sesquiterpen lacton, trong đó có cynaropicrin.
Hai thành phần tiêu biểu liên quan đến tác dụng dược lý là:
- Cynarin: dẫn xuất dicaffeoylquinic acid, có liên quan đến tác dụng lợi mật, chống oxy hóa và hỗ trợ bảo vệ gan.
- Acid chlorogenic: hợp chất phenolic có hoạt tính chống oxy hóa và được nghiên cứu về tác dụng hỗ trợ điều hòa chuyển hóa lipid và glucose.
Cụm hoa chứa nhiều chất dinh dưỡng như inulin, protein, glucid, lipid, chất khoáng và vitamin.
7. Tác dụng dược lý – Công dụng
Lá Actisô và các chế phẩm từ lá có các tác dụng đáng chú ý như tăng tiết mật, hỗ trợ tiêu hóa, chống oxy hóa và hỗ trợ điều hòa lipid máu. Một số nghiên cứu tiền lâm sàng cũng ghi nhận tác dụng bảo vệ tế bào gan.
Lá Actisô thường được sử dụng trong các chế phẩm hỗ trợ chức năng gan – mật và tiêu hóa, dưới dạng cao, viên, dung dịch uống hoặc trà.
Cụm hoa non chủ yếu được dùng làm thực phẩm; các sản phẩm từ Actisô cũng được sử dụng phổ biến dưới dạng trà và đồ uống.
Thân và rễ được sử dụng trong một số kinh nghiệm dân gian nhưng ít phổ biến hơn lá.

