Nhảy đến nội dung

 

dau tam

 

1. Tổng quan

Tên khác: Dâu, Tang.

Tên khoa học: Morus alba L. (DĐVN VI)

Họ: Moraceae (họ Dâu tằm).

Morus alba L. hiện là tên khoa học được Plants of the World Online (POWO) chấp nhận. Theo POWO, loài có nguồn gốc tự nhiên ở miền trung Trung Quốc và hiện được trồng rộng rãi ở nhiều vùng ôn đới, cận nhiệt đới và nhiệt đới, trong đó có Việt Nam.

2. Mô tả

Cây bụi lớn hoặc cây gỗ nhỏ, thường cao khoảng 3–10 m. Vỏ thân màu xám đến nâu xám, có các rãnh nông. Cành non có lông mịn.

Lá đơn, mọc so le. Cuống lá dài khoảng 1,5–5,5 cm. Phiến lá hình trứng đến hình trứng rộng, kích thước thay đổi khá nhiều, thường dài 5–15 cm nhưng có thể lớn hơn; gốc tròn đến hình tim, đầu nhọn, nhọn kéo dài hoặc đôi khi tù; mép có răng cưa.

Lá trên các chồi non thường có thể chia 3–5 thùy không đều, trong khi lá trên cành trưởng thành thường nguyên. Mặt trên màu xanh lục, tương đối nhẵn; mặt dưới thường có lông thưa dọc theo gân chính hoặc ở nách các gân lớn. Hệ gân nổi rõ với 3 gân chính xuất phát gần gốc phiến.

Hoa đơn tính. Cây có thể cùng gốc hoặc khác gốc.

Cụm hoa đực dạng bông hoặc đuôi sóc, thường dài khoảng 2–3,5 cm. Cụm hoa cái ngắn hơn, khoảng 1–2 cm.

Hoa nhỏ, không có cánh hoa rõ. Hoa đực thường có 4 phiến bao hoa và 4 nhị. Hoa cái có bầu một ô và hai nhánh đầu nhụy.

Quả là quả phức, hình trứng, hình bầu dục hoặc hình trụ, dài khoảng 1–2,5 cm. Mỗi quả nhỏ được bao quanh bởi các phiến bao hoa đồng trưởng trở nên mọng nước. Khi chín, quả có thể màu trắng xanh, đỏ, tím đến tím đen tùy giống.

Cây thường ra hoa vào khoảng tháng 4–5 và kết quả từ tháng 5–8; thời gian cụ thể thay đổi theo vùng và giống.

3. Đặc điểm giải phẫu (vi học)

Lá

Biểu bì trên gồm các tế bào tương đối lớn. Một số tế bào biểu bì phình to chứa nang thạch. Có lông che chở đơn bào hoặc đa bào.

Biểu bì dưới gồm các tế bào nhỏ hơn, có ít tế bào chứa nang thạch nhưng nhiều lỗ khí hơn.

Ở vùng gân giữa, ngay dưới biểu bì có các đám mô dày; đám phía dưới thường phát triển hơn.

Mô mềm chứa các tinh thể calci oxalat dạng cầu gai hoặc dạng lăng trụ.

Trong gân giữa có một hoặc hai bó libe–gỗ; quanh vùng libe có thể gặp các sợi.

Phiến lá có một hàng mô giậu chứa nhiều lục lạp. Phía dưới là mô mềm khuyết gồm các tế bào gần tròn hoặc đa giác, trong đó có thể gặp tinh thể calci oxalat.

4. Đặc điểm bột dược liệu

Bột lá Dâu

Bột có màu lục vàng đến nâu vàng.

Quan sát dưới kính hiển vi thấy các tế bào biểu bì trên phình to chứa nang thạch, đường kính khoảng 47–77 µm.

Lỗ khí chủ yếu ở biểu bì dưới, thuộc kiểu hỗn bào và được bao quanh bởi khoảng 4–6 tế bào không đều.

Lông che chở đơn bào dài khoảng 50–230 µm.

Gặp các cụm tinh thể calci oxalat đường kính khoảng 5–16 µm và các tinh thể calci oxalat hình lăng trụ.

Bột quả Dâu

Bột có màu đỏ tía đến tím nâu tùy màu quả.

Gặp các đám tế bào đá của vỏ quả, màu vàng nhạt, hình đa giác không đều, thành dày và có các lỗ trao đổi rõ.

Tế bào vỏ quả trong có thể chứa các tinh thể calci oxalat hình lăng trụ.

Mô mềm chứa các khối chất màu đỏ tía đến đỏ nâu.

Có thể gặp các lông che chở đơn bào và mảnh biểu bì vỏ quả màu vàng nâu.

5. Phân bố, sinh học và sinh thái

Theo POWO, Morus alba có nguồn gốc tự nhiên ở miền trung Trung Quốc và đã được đưa vào trồng ở rất nhiều khu vực trên thế giới. Việt Nam được POWO xếp vào vùng loài đã được du nhập.

Dâu tằm đã được trồng lâu đời ở Việt Nam, đặc biệt gắn với nghề trồng dâu nuôi tằm.

Cây ưa sáng, thích nghi với nhiều điều kiện đất và khí hậu. Cây có khả năng tái sinh mạnh sau khi cắt cành nên thuận lợi cho việc thu hoạch lá làm thức ăn cho tằm.

6. Bộ phận dùng, thu hái, chế biến

Nhiều bộ phận của Dâu tằm được sử dụng trong y học cổ truyền, nhưng cần phân biệt thành các dược liệu riêng.

Tang diệp – Mori albae Folium: lá bánh tẻ đã làm khô. DĐVN VI quy định thu hái vào cuối mùa xuân hoặc giữa mùa thu, chọn lá xanh, bỏ cuống, phơi trong bóng râm hoặc sấy nhẹ.

Tang chi – Mori albae Ramulus: cành nhỏ đã làm khô. Theo DĐVN VI, thu hoạch vào cuối mùa xuân hoặc đầu mùa thu, chọn cành nhỏ, bỏ lá rồi phơi hoặc sấy khô.

Tang bạch bì: vỏ rễ Dâu đã loại bỏ lớp bần phía ngoài và phần gỗ của rễ, được sử dụng trong y học cổ truyền.

Tang thầm: quả phức chín của Dâu tằm, dùng làm thực phẩm và dược liệu truyền thống.

Tang ký sinh:  là những đoạn thân cành và lá đã phơi khô, lấy từ cây Tầm gửi (Loranthus paraciticus (L.) Merr. = Taxillus paraciticus (L.) S.T.Chiu, họ Tầm gửi (Loranthaceae), sống kí sinh trên cây Dâu tằm.

Tang phiêu tiêu: tổ bọc các quả trứng của bọ ngựa sống trên cây Dâu tằm.

7. Thành phần hóa học

Thành phần hóa học của Dâu tằm thay đổi rõ rệt giữa lá, cành, vỏ rễ và quả.

Lá

Các nhóm thành phần đáng chú ý trong lá gồm flavonoid, acid phenolic và iminosugar.

Các flavonoid và acid phenolic thường gặp gồm:

  • rutin;

  • isoquercitrin;

  • astragalin;

  • quercitrin;

  • quercetin;

  • chlorogenic acid.

Một thành phần đặc trưng khác là 1-deoxynojirimycin (DNJ), thuộc nhóm iminosugar chứa nitơ. DNJ có khả năng ức chế α-glucosidase và được nghiên cứu nhiều liên quan đến ảnh hưởng của lá Dâu lên glucose máu sau ăn.

Không nên xem morusin hoặc kuwanon H là những flavonoid đặc trưng chính của lá. Các nghiên cứu so sánh trực tiếp các bộ phận cho thấy morusin và nhiều prenylflavonoid tập trung nhiều hơn ở vỏ rễ.

Cành

Cành chứa các hợp chất phenolic và stilbene. Oxyresveratrol và một số dẫn chất liên quan là những thành phần đáng chú ý ở cành Dâu.

Vỏ rễ

Vỏ rễ có thành phần hóa học phong phú, đặc biệt là các prenylflavonoid, Diels–Alder-type adduct và stilbene.

Các chất đã được xác định gồm:

  • mulberroside A;

  • kuwanon G;

  • morusin;

  • mulberrin;

  • mulberrofuran và các dẫn chất liên quan;

  • oxyresveratrol;

  • resveratrol.

Các nghiên cứu so sánh cho thấy mulberroside A, kuwanon G và morusin có hàm lượng cao hơn rõ ở vỏ rễ so với nhiều bộ phận khác của cây.

Quả

Quả chứa đường, acid hữu cơ, protein, vitamin, khoáng chất và các polyphenol.

Ở các giống quả màu đỏ hoặc tím, nhóm anthocyanin nổi bật gồm cyanidin-3-glucoside và cyanidin-3-rutinoside, góp phần tạo màu đỏ tím đặc trưng của quả. Hàm lượng anthocyanin thay đổi rất mạnh theo giống và màu quả.

8. Tác dụng dược lý – Công dụng

Tang diệp

Các nghiên cứu hiện đại về lá Dâu tập trung nhiều vào ảnh hưởng lên chuyển hóa carbohydrate và glucose. DNJ cùng một số flavonoid có khả năng ức chế α-glucosidase. Một số nghiên cứu trên người với chế phẩm từ lá Dâu ghi nhận giảm mức tăng glucose máu sau ăn, nhưng điều này không đồng nghĩa với việc lá Dâu đã được chứng minh là thuốc điều trị đái tháo đường.

Theo DĐVN VI, Tang diệp có công năng thanh tán phong nhiệt, lương huyết, sáng mắt, nhuận phế chỉ ho và sơ biểu giải nhiệt. Dược liệu được dùng trong các chứng phong nhiệt, ho, phế nhiệt và một số chứng thuộc phạm vi y học cổ truyền.

Tang bạch bì

Vỏ rễ chứa nhiều prenylflavonoid và stilbene với các hoạt tính chống viêm, kháng vi sinh vật và điều hòa một số con đường sinh học trong nghiên cứu tiền lâm sàng.

Trong y học cổ truyền, Tang bạch bì được dùng với công năng thanh phế, bình suyễn và lợi thủy tiêu thũng.

Tang chi

Theo DĐVN VI, Tang chi có công năng khu phong, lợi khớp, được sử dụng trong các chứng đau nhức, tê mỏi ở vai, tay và chân thuộc phạm vi y học cổ truyền.

Tang thầm

Quả Dâu được dùng làm thực phẩm và trong y học cổ truyền. Quả giàu polyphenol và, ở các giống màu tím, anthocyanin; các nghiên cứu thực nghiệm ghi nhận hoạt tính chống oxy hóa và một số tác động chuyển hóa.

Tang ký sinh 

Theo DĐVN VI: Bổ can thận, mạnh gân xương, thông kinh lạc, an thai. Chủ trị: Đau lưng, nhức xương-khớp, đau thần kinh ngoại biên, phụ nữ động thai, ít sữa sau khi đẻ.

Tang phiêu tiêu

Theo Y học cổ truyền, Tang phiêu tiêu có công năng ích thận, cố tinh, dùng với các bệnh thận hư, gây các chứng di tinh, tảo tiết (tiết tinh sớm). Ngoài ra còn có tác dụng lợi thủy, thông chứng ngũ lâm, đặc biệt là thạch lâm (tiểu tiện ra sỏi), hoặc tiểu đục, các trường hợp đái dầm, đái dắt. 

9. Cách dùng, liều lượng

Đối với Tang diệp, DĐVN VI quy định dùng 6–12 g/ngày, có thể đến 16 g, dưới dạng thuốc sắc hoặc dùng trong các dạng hoàn, tán tùy bài thuốc.

Đối với Tang chi, DĐVN VI quy định dùng 6–12 g/ngày, thường dưới dạng thuốc sắc hoặc trong các dạng thuốc cổ truyền.

Đối với Tang bạch bì, ngày dùng 8-12 g, dạng thuốc sắc. Tang thầm: ngày dùng 8-16 g, dạng thuốc sắc.