Nhảy đến nội dung

 

dia lien

1. Tổng quan

Tên khác: Thiền liền, Sơn nại.

Tên khoa học: Kaempferia galanga L.

Họ: Zingiberaceae (họ Gừng).

Kaempferia galanga L. hiện là tên được chấp nhận trong Plants of the World Online (POWO). Dược điển Việt Nam VI cũng sử dụng tên khoa học này cho dược liệu Địa liền.

2. Mô tả

Cây thảo địa sinh, sống nhiều năm, có thân rễ thơm nằm dưới đất; thân khí sinh rất ngắn hoặc không rõ. Thân rễ mọng, phân nhánh, phần trong màu trắng xanh đến xanh nhạt, có mùi thơm đặc trưng.

Lá thường 2, đôi khi nhiều hơn, mọc gần sát mặt đất và xòe rộng. Phiến lá gần hình tròn đến hình trứng rộng, dài khoảng 7–20 cm, rộng 3–17 cm; hai mặt nhẵn hoặc mặt dưới có lông mềm; đầu lá nhọn hoặc có mũi nhọn ngắn. Cuống lá rất ngắn; bẹ lá phát triển. Mép lá thường màu trắng nhạt.

Cụm hoa mọc giữa các bẹ lá, gần như không cuống, gồm ít đến nhiều hoa; lá bắc hình mũi mác. Đài hình ống. Tràng màu trắng, ống tràng dài khoảng 2–2,5 cm, phía trên chia 3 thùy hẹp. Hai nhị lép bên phát triển dạng cánh hoa. Cánh môi lớn, màu trắng, có vệt tím ở phần gốc và chẻ hai thùy ở đầu. Nhị hữu thụ không có chỉ nhị rõ; bao phấn mang phần phụ của trung đới phát triển.

Toàn cây, đặc biệt thân rễ, có mùi thơm rõ và vị cay.

Mùa ra hoa thay đổi theo vùng và điều kiện sinh trưởng; Flora of China ghi nhận mùa hoa khoảng tháng 8–9 tại Trung Quốc.

3. Đặc điểm giải phẫu (vi học)

Vi phẫu thân rễ: Lớp bần gồm 8–15 hàng tế bào hình chữ nhật. Mô mềm vỏ gồm các tế bào hình nón hoặc nhiều cạnh, thành mỏng, chứa hạt tinh bột; rải rác có các bó libe–gỗ nhỏ. Vòng nội bì có khung Caspari, tiếp giáp với vòng trụ bì. Mô mềm ruột gồm các tế bào thành hơi dày, chứa nhiều hạt tinh bột và rải rác có các bó libe–gỗ. Tế bào chứa tinh dầu có mặt ở cả mô mềm vỏ và mô mềm ruột.

4. Đặc điểm bột dược liệu

Bột thân rễ màu trắng ngà. Soi dưới kính hiển vi thấy nhiều hạt tinh bột hình gần ba cạnh, hình trứng hoặc hình tròn, đường kính 5–30 µm, có rốn và vân mờ. Mảnh mô mềm gồm các tế bào chứa tinh bột, đôi khi kèm tế bào chứa tinh dầu màu vàng. Có mảnh bần màu nâu nhạt và mảnh mạch vạch.

5. Phân bố, sinh học và sinh thái

Địa liền có vùng phân bố tự nhiên từ Ấn Độ qua Bangladesh, Myanmar, Thái Lan, Campuchia đến miền nam Trung Quốc và Việt Nam. Theo POWO, Việt Nam nằm trong vùng bản địa của loài, không phải chỉ là nơi cây được du nhập. Loài sinh trưởng chủ yếu trong vùng nhiệt đới ẩm.

Ở Việt Nam, cây vừa có thể gặp trong tự nhiên vừa được trồng để làm thuốc và sử dụng thân rễ thơm. Cây thích nơi ấm, ẩm, đất tơi xốp và tương đối thoát nước.

6. Bộ phận dùng, thu hái, chế biến

Bộ phận dùng: Thân rễ.

Tên dược liệu: Địa liền – Rhizoma Kaempferiae galangae.

Theo DĐVN, dược liệu là thân rễ đã thái phiến, phơi hoặc sấy khô của Kaempferia galanga L. Khi chế biến, đào lấy thân rễ, rửa sạch, thái phiến mỏng và phơi khô; khi dùng có thể vi sao.

DĐVN quy định dược liệu có mùi thơm đặc trưng, vị cay và hàm lượng tinh dầu không dưới 1,4% tính theo dược liệu khô kiệt.

7. Thành phần hóa học

Thân rễ Địa liền chứa tinh dầu và nhiều hợp chất thuộc nhóm phenylpropanoid, terpenoid cùng một số nhóm chất khác.

Hai thành phần tiêu biểu của tinh dầu thân rễ là ethyl p-methoxycinnamate (EPMC, còn gọi ethyl 4-methoxycinnamate; thường gặp dạng trans) và ethyl cinnamate. Tỷ lệ của các thành phần này thay đổi đáng kể theo nguồn nguyên liệu, giống và điều kiện trồng; các nghiên cứu GC–MS đã ghi nhận trans-ethyl p-methoxycinnamate khoảng 28–70% trong các nguồn giống khác nhau, trong khi những mẫu khác cho hàm lượng khoảng 30–66%.

Ngoài ra, tinh dầu còn có thể chứa pentadecane, 1,8-cineole, borneol và các terpenoid khác.

8. Tác dụng dược lý – Công dụng

Tác dụng dược lý hiện đại

Các nghiên cứu tiền lâm sàng cho thấy dịch chiết thân rễ K. galanga có tác dụng chống viêm và giảm đau trong các mô hình trên động vật. Dịch chiết cồn đã làm giảm phản ứng viêm và đau trong các mô hình thực nghiệm trên chuột cống.

Ethyl p-methoxycinnamate được phân lập từ phân đoạn có hoạt tính của thân rễ và cho thấy tác dụng ức chế phù chân chuột do carrageenan; chất này cũng ức chế COX-1 và COX-2 trong thử nghiệm in vitro. Tuy nhiên đây vẫn là bằng chứng tiền lâm sàng và không nên suy ra rằng EPMC hoặc Địa liền đã được chứng minh có hiệu quả điều trị chống viêm ở người.

Nhiều hoạt tính khác như kháng khuẩn, chống oxy hóa, giãn mạch và một số tác dụng sinh học khác đã được báo cáo, nhưng phần lớn bằng chứng hiện nay vẫn ở mức in vitro hoặc động vật.

Công năng, chủ trị theo y học cổ truyền

Theo DĐVN, Địa liền có vị cay, tính ấm, vào kinh Tỳ và Vị.

Công năng: hành khí, ôn trung, tiêu thực, chỉ thống.

Chủ trị: tê thấp, đau nhức xương khớp, nhức đầu, đau răng, ngực bụng lạnh đau và tiêu hóa kém.

9. Cách dùng, liều lượng

Theo DĐVN, ngày dùng 6–9 g dưới dạng thuốc sắc, bột hoặc viên. Có thể ngâm rượu 5–7 ngày với lượng thích hợp để dùng ngoài xoa bóp; thường phối hợp với các vị thuốc khác.

Kiêng kỵ theo DĐVN: người âm hư, thiếu máu hoặc Vị có hỏa uất không dùng.

10. Ghi chú

K. galanga thường có lá gần tròn, trải sát mặt đất và mép lá trắng nhạt chú ý phân biệt với Kaempferia marginata, là loài có mép lá tím nâu.

Theo DĐVN VI: Một số loài Địa liền khác cũng được khai thác: Địa liền lá hẹp (Kaempferia angustifolia Roscoe), Địa liền lá rộng (Kaempferia marginata Carey ex Roscoe), Địa liền lào (Kaempferia laotica Gagnep.)