Nhảy đến nội dung

gai

 

1. Tổng quan

Tên khác: Trữ ma, Gai tuyết, Gai làm bánh, Gai lá làm bánh.

Tên khoa học: Boehmeria nivea (L.) Gaudich.

Họ: Urticaceae (họ Gai).

Boehmeria nivea (L.) Gaudich. hiện là tên được chấp nhận trong Plants of the World Online (POWO). Việt Nam nằm trong vùng phân bố tự nhiên của loài.

2. Mô tả

Cây bụi hoặc cây bụi nhỏ sống nhiều năm, thường cao khoảng 0,5–1,5 m, đôi khi cao hơn; phần gốc có thể hóa gỗ. Thân non, cành và cuống lá có lông.

Lá đơn, mọc so le. Phiến lá thường hình trứng rộng đến gần tròn, đôi khi hình trứng hoặc bầu dục, dài khoảng 5–15 cm, rộng 3,5–13 cm; gốc gần bằng, tròn, hình tim hoặc hình nêm; đầu lá nhọn kéo dài; mép có răng. Mặt trên màu xanh, hơi ráp và có lông thưa; mặt dưới đặc trưng phủ dày lớp lông trắng như tuyết hoặc trắng bạc. Cuống lá dài khoảng 2,5–10 cm. Lá kèm hình mũi mác, sớm rụng.

Cây có hoa đơn tính cùng gốc. Các hoa tập hợp thành những cụm nhỏ hình cầu, sau đó các cụm này sắp xếp trên những nhánh hoa chuyên hóa mọc ở nách lá. Cụm hoa đực thường nằm về phía dưới, cụm hoa cái ở phía trên. Hoa đực nhỏ, bao hoa gồm 4 thùy, có 4 nhị. Hoa cái rất nhỏ, bao hoa dạng ống hoặc hình thoi–bầu dục, đầu mang vòi nhụy mảnh.

Quả bế rất nhỏ, gần hình trứng, hơi dẹt, gốc thuôn thành cuống ngắn; quả được bao bởi bao hoa tồn tại có lông.

Flora of China ghi nhận cây ra hoa khoảng tháng 5–8, kết quả tháng 9–11. Thời kỳ cụ thể có thể thay đổi theo vùng khí hậu và điều kiện trồng.

3. Đặc điểm giải phẫu (vi học)

Vi phẫu rễ: Lớp bần gồm 3–4 hàng tế bào hình chữ nhật, màu nâu. Mô mềm vỏ gồm các tế bào hình đa giác, thành mỏng, rải rác có tế bào chứa chất nhầy và tinh thể calci oxalat hình cầu gai, đôi khi gặp đám sợi. Các bó libe–gỗ bị ngăn cách bởi các tia ruột kéo dài ra tận mô mềm vỏ. Trong libe cũng có các đám sợi rải rác. Mạch gỗ tròn, to, xếp hướng tâm. Mô mềm ruột hẹp.

4. Đặc điểm bột dược liệu

Bột rễ màu vàng nâu. Quan sát dưới kính hiển vi thấy sợi dài, riêng lẻ hoặc tập trung thành bó; mảnh mô mềm gồm các tế bào hình nhiều cạnh, thành mỏng, chứa nhiều tinh bột; hạt tinh bột nhỏ, hình tròn; mảnh bần màu vàng sẫm, tế bào có thành dày; các mảnh mạch và tinh thể calci oxalat hình cầu gai.

5. Phân bố, sinh học và sinh thái

Boehmeria nivea có vùng phân bố tự nhiên rộng từ tiểu lục địa Ấn Độ qua Đông Á và Đông Dương. Theo POWO, Việt Nam thuộc vùng bản địa của loài.

Cây thường sinh trưởng ở nơi ẩm, ven rừng, bụi cây, ven suối, ven đường và cũng được trồng rộng rãi. Ở Việt Nam, cây được trồng để lấy sợi, dùng lá làm bánh và lấy rễ làm thuốc.

Cây sinh trưởng mạnh trong điều kiện ấm và ẩm, có khả năng tái sinh sinh dưỡng tốt từ gốc và có thể nhân giống bằng hom.

6. Bộ phận dùng, thu hái, chế biến

Bộ phận dùng theo Dược điển Việt Nam VI: Rễ.

Tên dược liệu: Gai (Rễ) – Boehmeriae niveae Radix; tên khác: Trữ ma căn.

DĐVN VI quy định dược liệu là rễ được làm khô của cây Gai lá làm bánh [Boehmeria nivea (L.) Gaud.]. Rễ thường có dạng hình trụ, hơi cong queo; trong mô tả dược điển có ghi “rễ (còn gọi là củ)”, nhưng về mặt thực vật học bộ phận dùng vẫn nên gọi chính xác là rễ.

Thu hoạch vào cuối mùa hạ đến đầu mùa thu. Đào lấy rễ, rửa sạch đất, cắt bỏ rễ con, sau đó phơi hoặc sấy khô.

Khi chế biến thành phiến: loại bỏ tạp chất, rửa sạch, ủ mềm, thái lát mỏng rồi phơi khô. Dược liệu đã chế biến được bảo quản trong đồ đựng kín; DĐVN VI khuyến nghị nên dùng trong vòng 30 ngày sau khi chế biến.

DĐVN VI còn quy định chất chiết được bằng ethanol 96% không ít hơn 5,0%, tính theo dược liệu khô kiệt.

7. Thành phần hóa học

Các nghiên cứu trực tiếp trên rễ B. nivea đã phân lập nhiều triterpenoid và hợp chất phenolic. Một nghiên cứu phân lập từ rễ xác định tormentic acid, hederagenin, maslinic acid, 2α-hydroxyursolic acid, trans-p-hydroxycinnamic acid, 2,4,4′-trihydroxychalcone và rutin.

Một nghiên cứu trước đó cũng phân lập β-sitosterol, daucosterol và 19α-hydroxyursolic acid từ rễ.

Phân tích so sánh các bộ phận sinh dưỡng cho thấy rễ chứa nhiều acid phenolic như chlorogenic acid, caffeic acid, p-coumaric acid và ferulic acid, cùng một số flavonoid như rutin, isoquercetin và hyperoside. Trong mẫu nghiên cứu này, p-coumaric acid là acid phenolic nổi trội ở rễ.

8. Tác dụng dược lý – Công dụng

Tác dụng dược lý hiện đại

Các nghiên cứu hiện đại về rễ Gai chủ yếu vẫn ở mức tiền lâm sàng.

Dịch chiết nước từ rễ B. nivea đã thể hiện tác dụng chống viêm trong mô hình phù chân chuột do carrageenan và tác dụng bảo vệ gan trong các mô hình tổn thương gan thực nghiệm trên chuột.

Một nghiên cứu khác trên chuột cũng ghi nhận dịch chiết rễ có tác dụng bảo vệ gan trong mô hình tổn thương gan do carbon tetrachloride và có hoạt tính chống oxy hóa trong các hệ thử nghiệm liên quan đến peroxid hóa lipid.

Dịch chiết rễ còn làm giảm sự tạo HBeAg và DNA virus viêm gan B được giải phóng từ tế bào HepG2.2.15 trong một nghiên cứu in vitro. Kết quả này không đồng nghĩa với việc dược liệu đã được chứng minh có hiệu quả điều trị viêm gan B ở người.

Một nghiên cứu trên chuột mang thai nhằm đánh giá độc tính phát triển không ghi nhận độc tính rõ rệt đối với mẹ hoặc phôi ở các liều dịch chiết được thử, kể cả 32 g/kg/ngày; tuy nhiên đây là nghiên cứu an toàn trên động vật, không phải bằng chứng lâm sàng chứng minh tác dụng “an thai” ở người.

Công năng, chủ trị theo Dược điển Việt Nam VI

Tính vị, quy kinh: Vị ngọt, tính hàn; vào kinh Can và Tâm.

Công năng: Thanh nhiệt, giải độc, an thai, lợi tiểu, chỉ huyết.

Chủ trị: Động thai đau bụng, có thai ra huyết, xích bạch đới.

9. Cách dùng, liều lượng

Theo DĐVN VI: ngày dùng 16–20 g dược liệu khô, dạng thuốc sắc.

Kiêng kỵ: Người tỳ vị hư hàn, đại tiện lỏng hoặc tiêu chảy không được dùng.

10. Ghi chú nhận diện

Đặc điểm rất có giá trị nhận diện ngoài thực địa là mặt dưới lá phủ dày lớp lông trắng bạc, tương phản rõ với mặt trên màu xanh.