
1. Tổng quan
Tên khác: Hòe; Lài luồng (Tày).
Tên khoa học: Styphnolobium japonicum (L.) Schott.
Tên đồng nghĩa: Sophora japonica L.
Họ: Fabaceae (họ Đậu).
Theo Plants of the World Online (POWO), Styphnolobium japonicum (L.) Schott là tên được chấp nhận; Sophora japonica L. là tên đồng nghĩa. DĐVN VI cũng sử dụng Styphnolobium japonicum (L.) Schott và ghi Sophora japonica L. là tên đồng nghĩa.
“Hòe mễ” thường dùng để chỉ nụ hoa Hòe chưa nở dùng làm dược liệu; “Hòe hoa” có thể được dùng theo nghĩa rộng cho hoa hoặc dược liệu từ hoa. Vì vậy mình không khuyến nghị xếp hai tên này ngang hàng với tên cây trong mục “Tên khác”.
2. Mô tả
Cây gỗ rụng lá theo mùa, có thể cao 10–25 m. Vỏ thân già màu xám nâu, có các rãnh hoặc vết nứt dọc. Cành non màu xanh, nhẵn.
Lá kép lông chim lẻ, mọc so le, dài khoảng 15–25 cm, thường gồm 9–15 lá chét. Lá chét hình trứng–mũi mác đến hình trứng–thuôn, dài khoảng 2,5–6 cm, rộng 1,5–3 cm; gốc hình nêm rộng hoặc tròn, đầu nhọn, có mũi nhỏ; mặt dưới thường xanh xám và có lông thưa khi non, sau có thể gần nhẵn. Mép lá nguyên.
Cụm hoa là chùy lớn ở đầu cành, dài có thể tới khoảng 30 cm, phân nhánh nhiều. Hoa kiểu hoa bướm, màu trắng hoặc trắng kem đến vàng nhạt. Đài hình chuông ngắn, có 5 răng tù. Cánh cờ hình trứng rộng, gốc hình tim, đầu hơi lõm; nhị 10, rời nhau và không đều.
Quả đậu hình tràng hạt, dài khoảng 2,5–5 cm, thắt rõ giữa các hạt, nhẵn và không tự mở khi chín. Quả thường chứa 1–6 hạt; hạt hình trứng, màu vàng lục khi tươi và chuyển nâu đen khi khô.
Cây ra hoa vào mùa hè và kết quả sau đó; Flora of China ghi mùa hoa khoảng tháng 7–8 và mùa quả tháng 8–10. Thời gian cụ thể có thể thay đổi theo điều kiện khí hậu và nơi trồng.
3. Đặc điểm bột dược liệu
Bột nụ hoa có nhiều hạt phấn hình cầu, đường kính khoảng 16 µm, có 3 lỗ rãnh, bề mặt có nếp nhăn dạng mắt lưới.
Lông che chở đa bào gồm 2–4 tế bào; tế bào phía đầu dài và thuôn nhọn, tế bào ở chân ngắn. Mảnh biểu bì cánh hoa gồm các tế bào hình nhiều cạnh, có nhiều vân nhỏ, xếp sát nhau. Mảnh biểu bì đài hoa gồm các tế bào hình nhiều cạnh, có lỗ khí kiểu thập tự và lông che chở. Có mảnh mạch xoắn.
Nội dung này phù hợp với chuyên luận Hòe (Nụ hoa) của DĐVN VI. Bản gốc cần sửa “16 pm” thành “16 µm” và “lông che chở đa” thành “lông che chở đa bào”.
4. Phân bố, sinh học và sinh thái
Theo POWO hiện hành, vùng phân bố tự nhiên của S. japonicum là Trung và Nam Trung Quốc. Loài đã được du nhập vào nhiều khu vực, trong đó có Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam. Vì vậy, đối với website nên ghi Việt Nam là vùng du nhập, không nên mô tả cây là loài bản địa “mọc hoang khắp nơi”.
Một số tài liệu phân loại cũ, bao gồm Flora of China, có cách diễn giải khác về vùng bản địa, nhưng POWO hiện xếp Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam vào vùng du nhập; đây là nguồn mình ưu tiên theo quy tắc chúng ta đã thống nhất.
Ở Việt Nam, Hòe được trồng làm cây thuốc và cây cảnh, đặc biệt ở các tỉnh phía Bắc. Cây được nhân giống bằng hạt hoặc bằng các phương pháp nhân giống sinh dưỡng.
5. Bộ phận dùng, thu hái, chế biến
Bộ phận dùng theo DĐVN VI: Nụ hoa.
Tên dược liệu: Hòe (Nụ hoa) – Styphnolobii japonici immaturus Flos.
Dược liệu là nụ hoa được làm khô của cây Styphnolobium japonicum (L.) Schott. Khi trời khô ráo, thường vào buổi sáng, ngắt các chùm hoa chưa nở, tuốt lấy nụ, loại bỏ các bộ phận khác của cây rồi phơi hoặc sấy nhẹ đến khô.
Nụ khô có dạng hình trụ không đều, dài khoảng 5–7 mm, đường kính 2–3 mm, được đài hoa bao bọc; màu vàng ngà, vàng lục đến nâu nhạt, có mùi thơm đặc trưng và vị hơi đắng.
DĐVN VI còn quy định hai dạng chế biến: Hòe hoa sao vàng và Hòe hoa sao cháy. Hòe hoa sao vàng được sao đến khi mặt ngoài vàng đậm, có mùi thơm; Hòe hoa sao cháy được sao đến khi mặt ngoài đen, bên trong còn màu nâu hơi vàng.
6. Thành phần hóa học
Nụ hoa Hòe đặc biệt giàu flavonoid, trong đó rutin (quercetin-3-O-rutinoside) là thành phần tiêu biểu và cũng là chất đánh dấu quan trọng trong kiểm nghiệm dược liệu.
DĐVN VI sử dụng rutin chuẩn trong phép thử sắc ký lớp mỏng và định lượng rutin bằng HPLC. Dược liệu phải chứa không ít hơn 18,0% rutin, tính theo dược liệu khô kiệt. Đây là thông tin hóa học–kiểm nghiệm rất có giá trị cho sinh viên.
Ngoài rutin, quercetin và một số flavonoid/isoflavonoid khác như sophoricoside, sophorabioside và genistein đã được xác định trong các mẫu hoa/nụ hoặc các dạng chế biến của Hòe. Tuy nhiên, nụ hoa nổi bật nhất về hàm lượng rutin.
7. Tác dụng dược lý – Công dụng
Tác dụng dược lý hiện đại
Các nghiên cứu thực nghiệm trên động vật cho thấy nụ/hoa Hòe và các phân đoạn chứa rutin, quercetin và tannin có ảnh hưởng đến thời gian chảy máu, đông máu và tính thấm mao mạch. Trong một nghiên cứu trên chuột, các dạng sống, sao và sao cháy của dược liệu đều cho thấy tác dụng cầm máu ở mức tiền lâm sàng, trong đó các dạng đã chế biến thể hiện tác dụng mạnh hơn dược liệu sống trong một số chỉ số.
Công năng, chủ trị theo Dược điển Việt Nam VI
Tính vị, quy kinh: Vị hơi đắng, tính hơi hàn; vào kinh Can và Đại tràng.
Công năng: Lương huyết chỉ huyết, thanh can tả hỏa, hạ huyết áp.
Chủ trị: Trĩ xuất huyết, ho ra máu, băng huyết, tăng huyết áp, đau mắt đỏ do can hỏa vượng, đau đầu, đại tiện và tiểu tiện ra máu.
Hòe hoa sao vàng được DĐVN VI ghi dùng trong các trường hợp huyết nhiệt, xơ vữa mạch và huyết áp tăng; Hòe hoa sao cháy dùng trong các trường hợp xuất huyết.
8. Cách dùng, liều lượng
Theo DĐVN VI: ngày dùng 6–12 g, dưới dạng thuốc sắc hoặc hãm uống như chè.
Kiêng kỵ theo DĐVN VI: người không có chứng thực hỏa không dùng; không dùng cho phụ nữ có thai.
9. Giá trị làm nguyên liệu hóa dược
Nụ Hòe là nguồn thực vật giàu rutin và được sử dụng làm nguyên liệu để chiết rutin. Từ rutin có thể điều chế quercetin hoặc tạo các dẫn chất bán tổng hợp như hydroxyethylrutosides, trong đó có troxerutin.

