
1. Tổng quan
Tên khác: Tần dày lá, Thơm lông, Dương tử tô.
Theo DĐVN VI: Plectranthus amboinicus (Lour.) Spreng.
Theo POWO: Coleus amboinicus Lour.
Họ: Lamiaceae (họ Hoa môi).
Theo Plants of the World Online (POWO), Coleus amboinicus Lour. hiện là tên được chấp nhận; Plectranthus amboinicus (Lour.) Spreng. là tên đồng nghĩa đồng kiểu. Vì DĐVN VI vẫn sử dụng Plectranthus amboinicus (Lour.) Spreng., trên website nên giữ cả hai tên như trên để vừa đối chiếu được với Dược điển vừa phản ánh phân loại thực vật hiện hành.
2. Mô tả
Cây thảo mọng nước hoặc cây bụi nhỏ, sống nhiều năm, thường cao khoảng 30–50 cm, có thể cao hơn khi mọc dựa. Thân phân nhánh, mọng, tương đối giòn, phần non có tiết diện gần vuông, phủ lông che chở và lông tuyến; phần gốc già có thể hóa gỗ.
Lá đơn, mọc đối, có cuống. Phiến lá dày và mọng nước, hình trứng rộng đến gần tròn, thường dài khoảng 2–5,5 cm, rộng 1,5–3,5 cm; đầu tù hoặc tròn, gốc thuôn, cụt hoặc đôi khi gần hình tim; mép khía răng tròn. Hai mặt lá có lông, mặt dưới thường có lông dày hơn và có nhiều tuyến tiết. Lá có mùi thơm mạnh khi vò.
Cụm hoa mọc ở ngọn, dài có thể tới khoảng 30 cm. Hoa tập hợp thành các xim nhỏ dày đặc, sắp xếp thành những vòng giả cách nhau khoảng 5–20 mm dọc theo trục cụm hoa; vì vậy không nên mô tả toàn bộ cụm hoa là một “bông dày” với các vòng hoa luôn sít nhau.
Hoa nhỏ, màu tím nhạt, tím hồng hoặc trắng pha hồng. Đài hình chuông, có lông. Tràng hai môi, ống tràng cong; môi trên ngắn hơn, môi dưới dài hơn và hình trứng–thuôn. Nhị 4, các chỉ nhị dính nhau một phần và thò ra ngoài tràng.
Quả phân thành 4 quả nhỏ, màu nâu, hình trứng rộng đến gần cầu, dài khoảng 1 mm; bề mặt có thể nhẵn bóng và tạo chất nhầy khi gặp nước.
Ở Đông Nam Á cây ít ra hoa khi trồng; tài liệu phân loại ghi nhận thời kỳ ra hoa–kết quả có thể kéo dài từ tháng 5 đến tháng 12 tùy vùng. Vì vậy mình đề nghị bỏ mốc cố định “tháng 3–5”.
3. Đặc điểm giải phẫu (vi học)
Vi phẫu lá: Biểu bì trên và biểu bì dưới có lông che chở đa bào gồm 3–6 tế bào. Lông tiết có hai loại: loại có đầu gồm 2 tế bào, chân đơn bào rất ngắn và loại có đầu đơn bào, chân đơn bào.
Ở vùng gân chính có mô dày nằm sát biểu bì trên và biểu bì dưới. Mô mềm gồm các tế bào lớn, thành mỏng. Nhiều bó libe–gỗ hình trái xoan sắp xếp thành vòng ở phần gân chính; các bó phía trên nhỏ hơn, các bó phía dưới lớn hơn, phần gỗ của các bó hướng vào phía trong. Phiến lá không phân hóa thành mô giậu điển hình mà chủ yếu gồm mô mềm dạng mô khuyết.
4. Phân bố, sinh học và sinh thái
Theo POWO, Coleus amboinicus có vùng phân bố tự nhiên từ Kenya xuống miền nam châu Phi, bán đảo Ả Rập và Ấn Độ. Loài đã được du nhập rộng rãi ở các vùng nhiệt đới, trong đó có Việt Nam. Vì vậy không nên chỉ ghi chung “cây được trồng phổ biến ở Việt Nam” mà nên làm rõ Việt Nam là vùng du nhập.
Ở Việt Nam, Húng chanh được trồng phổ biến trong vườn nhà để làm gia vị và làm thuốc. Cây ưa khí hậu ấm, sinh trưởng tốt trên đất thoát nước; thân mọng và dễ ra rễ nên có thể nhân giống thuận lợi bằng giâm cành.
5. Bộ phận dùng, thu hái, chế biến
Bộ phận dùng chính: Lá.
Dược liệu Húng chanh trong DĐVN V là lá tươi hoặc lá phơi âm can của Plectranthus amboinicus (Lour.) Spreng., với tên Latin Folium Plectranthi amboinici.
Thu hái có thể thực hiện quanh năm, vào lúc trời khô ráo; chọn lá bánh tẻ, loại bỏ lá sâu bệnh và lá già. Lá thường được dùng tươi hoặc phơi trong bóng râm.
6. Thành phần hóa học
Lá Húng chanh chứa tinh dầu với thành phần biến thiên đáng kể tùy nguồn giống, vùng địa lý, điều kiện sinh trưởng, thời điểm thu hái và phương pháp phân tích.
Carvacrol là một trong những thành phần tiêu biểu và là chất chiếm ưu thế trong nhiều mẫu tinh dầu đã được nghiên cứu. Tuy nhiên, không phải mọi mẫu đều thuộc chemotype giàu carvacrol. Các chemotype giàu thymol cũng đã được ghi nhận, trong khi một số mẫu có hàm lượng carvacrol và thymol thấp. Các thành phần thường gặp khác gồm γ-terpinene, p-cymene, caryophyllene oxide, β-caryophyllene và terpinen-4-ol.
Ngoài tinh dầu, lá còn chứa các acid phenolic và flavonoid. Các hợp chất đã được ghi nhận gồm caffeic acid, chlorogenic acid, rosmarinic acid, cùng các flavonoid như luteolin, quercetin, rutin, cirsimaritin, salvigenin và chrysoeriol.
7. Tác dụng dược lý – Công dụng
Tác dụng dược lý hiện đại
Tinh dầu và các cao chiết từ lá Húng chanh đã được nghiên cứu về hoạt tính kháng khuẩn, kháng nấm, chống viêm và chống oxy hóa. Các nghiên cứu trên tinh dầu giàu carvacrol cũng cho thấy tác dụng kháng khuẩn và chống viêm trong các mô hình in vitro và trên động vật.
Một số nghiên cứu tiền lâm sàng ghi nhận tác dụng giãn phế quản hoặc ảnh hưởng đến đáp ứng viêm đường hô hấp, phù hợp phần nào với lịch sử sử dụng cây trong các chứng ho và bệnh đường hô hấp. Tuy nhiên, phần lớn bằng chứng hiện nay vẫn ở mức in vitro hoặc động vật; mình chưa thấy bằng chứng thử nghiệm lâm sàng đủ mạnh để kết luận Húng chanh đơn độc có hiệu quả điều trị ho hoặc viêm họng ở người.
Công năng, chủ trị theo y học cổ truyền
Chuyên luận DĐVN V ghi Húng chanh có vị cay, tính ấm, vào kinh Phế và Tỳ.
Công năng: ôn phế trừ đàm, tân ôn giải biểu, tiêu độc.
Chủ trị: cảm cúm, ho sốt do phong hàn, nục huyết, ho gà, khản tiếng và trùng thú cắn.
Ngoài sử dụng làm thuốc, lá tươi còn được dùng làm rau thơm và gia vị ở nhiều vùng nhiệt đới; Kew cũng ghi nhận việc sử dụng lá tươi làm thực phẩm tại Đông Nam Á.
8. Cách dùng, liều lượng
DĐVN V quy định ngày dùng 10–16 g lá, dưới dạng thuốc sắc, thuốc xông hoặc vắt lá tươi lấy dịch uống; thường dùng lá tươi.

