Nhảy đến nội dung

 

hnt

1. Tổng quan

Tên khác: É tía, é rừng, é đỏ, hương nhự.

Tên khoa học: Ocimum tenuiflorum L.
Tên đồng nghĩa: Ocimum sanctum L.

Họ: Lamiaceae (họ Bạc hà/Hoa môi).

Ocimum tenuiflorum L. hiện là tên được POWO chấp nhận; O. sanctum L. được xem là tên đồng nghĩa.

2. Mô tả

Cây thảo thơm sống lâu năm hoặc cây bụi nhỏ, phân cành nhiều, thường cao đến khoảng 1 m. Thân mọc đứng, tiết diện gần vuông, thường hóa gỗ ở gốc, phần non có nhiều lông và có thể mang màu tím.

Lá mọc đối chéo chữ thập, có cuống; phiến lá hình trứng, hình bầu dục hoặc thuôn hình trứng, đầu tù đến nhọn, mép có răng cưa, hai mặt có lông và các điểm tuyến tiết. Lá và thân có mùi thơm đặc trưng.

Cụm hoa mọc ở đầu cành, gồm các xim co xếp thành từng vòng, mỗi vòng thường có 6–8 hoa. Hoa nhỏ, màu trắng, hồng đến đỏ tím. Đài có lông, khoảng 1–1,5 mm khi hoa nở và dài đến khoảng 3–4 mm khi mang quả; tràng dài khoảng 2–3 mm. Nhị 4.

Quả phân thành bốn phân quả nhỏ nằm trong đài tồn tại; phân quả màu nâu, hình trứng đến thuôn, bề mặt tương đối nhẵn

3. Đặc điểm giải phẫu (vi học)

Lá: Biểu bì trên và biểu bì dưới mang lông che chở đa bào gồm 2–10 tế bào xếp thành dãy dài. Tế bào của lông có thành khá dày; tại vị trí chân lông, các tế bào biểu bì nhô cao tạo thành u lồi. Lông tiết có chân gồm 1–2 tế bào ngắn, đầu thường gồm 2–4 tế bào chứa tinh dầu màu vàng.

Ở vùng gân chính có mô dày nằm sát biểu bì trên và biểu bì dưới. Cung libe–gỗ thường chia làm hai; phía trên có hai bó libe–gỗ nhỏ quay xuống, đối diện với hai cung libe–gỗ lớn. Cung mô dày nằm kèm phía dưới cung libe. Phần phiến lá có một lớp mô dậu nằm sát biểu bì trên, tiếp theo là mô khuyết.

4. Đặc điểm bột dược liệu

Bột dược liệu màu xanh nâu, mùi thơm, vị hơi cay. Quan sát dưới kính hiển vi thấy: lông che chở đa bào có nhiều đoạn thắt, bề mặt lấm tấm; lông tiết có chân gồm 1–2 tế bào ngắn, đầu gồm 2–4 tế bào chứa tinh dầu màu vàng; mảnh biểu bì lá có lỗ khí kiểu trực bào; mảnh mạch vạch, mạch xoắn, mạch mạng và mạch chấm; hạt phấn hình cầu, đường kính 35–39 μm, có 6 rãnh, bề mặt dạng mạng lưới; mảnh cánh hoa có tế bào với vách ngoằn ngoèo, mang nhiều lông tiết; sợi đứng riêng lẻ hoặc tụ thành đám; tế bào mô cứng có thành dày và các ống trao đổi rõ.

5. Phân bố, sinh học và sinh thái

Loài có vùng phân bố tự nhiên rộng từ vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Á đến phía tây Thái Bình Dương, trong đó Việt Nam nằm trong vùng phân bố bản địa. Cây cũng được trồng và đã được du nhập vào nhiều vùng nhiệt đới khác trên thế giới. Cây thường gặp ở nơi trống, khu vực bị tác động và được trồng làm cây thuốc hoặc cây gia vị; có thể sinh trưởng từ vùng thấp đến khoảng 1.200 m.

6. Bộ phận dùng, thu hái, chế biến

Bộ phận dùng: Đoạn đầu cành có hoặc không có hoa, dùng tươi hoặc làm khô – Ocimi tenuiflori Herba.

Theo Dược điển Việt Nam VI, dược liệu được thu hoạch vào mùa hạ, khoảng tháng 4–6, khi cây ra hoa. Sau khi thu hái, rửa sạch nếu bẩn và phơi trong bóng râm đến thật khô. Không sấy vì có thể làm mất tinh dầu.

7. Thành phần hóa học

Thành phần đáng chú ý của Hương nhu tía là tinh dầu, tuy nhiên thành phần và tỷ lệ các cấu tử biến đổi đáng kể tùy kiểu hóa học (chemotype), nguồn gốc địa lý, điều kiện sinh trưởng và thời điểm thu hái. Eugenol, methyl eugenol, β-caryophyllene, β-elemene và các sesquiterpen khác thường được ghi nhận trong tinh dầu.

Một nghiên cứu trên lá O. tenuiflorum thu tại Việt Nam ghi nhận methyl eugenol 46,07%, β-caryophyllene 15,65% và eugenol 11,83%. Một nghiên cứu khác trên các mẫu từ nhiều địa điểm ghi nhận eugenol khoảng 9,0–44,0%, (E)-β-caryophyllene 27,8–49,0% và trans-β-elemene 20,3–37,1%, cho thấy không nên quy định một tỷ lệ eugenol/methyl eugenol cố định cho toàn loài.

Ngoài tinh dầu, cây còn chứa nhiều hợp chất phenolic và flavonoid như rosmarinic acid, caffeic acid, apigenin, luteolin và các dẫn chất của chúng; ursolic acid cũng được ghi nhận. Ocimumoside A, ocimumoside B và coumarin ocimarin đã được phân lập từ lá.

DĐVN VI sử dụng eugenol và acid ursolic làm chất đối chiếu trong định tính và quy định dược liệu khô phải chứa ít nhất 0,5% tinh dầu tính theo dược liệu khô kiệt.

8. Tác dụng dược lý – Công dụng

Tác dụng dược lý: Các nghiên cứu in vitro và tiền lâm sàng cho thấy tinh dầu, dịch chiết và một số hợp chất của O. tenuiflorum có các hoạt tính sinh học như kháng vi sinh vật, chống oxy hóa và chống viêm. Hoạt tính kháng khuẩn và kháng nấm đã được ghi nhận đối với tinh dầu và các thành phần như eugenol hoặc methyl eugenol, tuy nhiên mức độ tác dụng phụ thuộc đáng kể vào thành phần của từng mẫu tinh dầu.

Tinh dầu và eugenol cũng cho hoạt tính kháng giun trong mô hình Caenorhabditis elegans in vitro. Một số thử nghiệm lâm sàng nhỏ với dịch chiết chuẩn hóa của O. tenuiflorum đã ghi nhận tín hiệu cải thiện stress và một số chỉ số liên quan đến giấc ngủ

Công dụng và cách dùng: Theo Dược điển Việt Nam VI, Hương nhu tía có vị cay, tính hơi ôn, quy vào kinh phế và vị; có công năng phát hãn, thanh thử nhiệt, lợi thấp, hành thủy. Dược liệu được dùng theo y học cổ truyền trong các trường hợp cảm nắng, sốt nóng sợ rét, nhức đầu, đau bụng đi ngoài, thổ tả, nôn mửa, chuột rút, cước khí, thủy thũng; dùng ngoài trị ngứa lở ngoài da. Liều dùng thông thường là 8–16 g dược liệu khô/ngày, có thể dùng đến 20 g, dưới dạng thuốc sắc.