Nhảy đến nội dung

 

huong phu

 

1. Tổng quan

Tên khác: Củ gấu, Củ gấu biển, Củ gấu vườn.

Tên khoa học: Theo Dược điển Việt Nam VI, Hương phụ (Cyperi Rhizoma) là thân rễ đã loại bỏ rễ con và lông, được làm khô của cây Hương phụ vườn (Cyperus rotundus L.) hoặc cây Hương phụ biển (Cyperus stoloniferus Retz.).

Họ: Cyperaceae (họ Cói).

Cả Cyperus rotundus L. và Cyperus stoloniferus Retz. hiện đều là tên được Plants of the World Online (POWO) chấp nhận.

2. Mô tả

Hương phụ vườn – Cyperus rotundus L.

Cây thảo sống lâu năm, cao khoảng 15–90 cm. Thân rễ bò mảnh, phát triển thành các củ hình elip. Thân khí sinh thường mọc đơn độc, đôi khi 2–3 thân tụ thành bụi thưa, tương đối mảnh, tiết diện hình tam giác, bề mặt nhẵn; phần gốc hơi phình và mang lá. Lá tập trung chủ yếu ở gốc, dài bằng hoặc ngắn hơn thân; bẹ lá màu nâu, khi già thường rách thành sợi; phiến lá hẹp, màu xanh lục hơi ánh lam, rộng khoảng 2–5 mm, tương đối phẳng.

Lá bắc của cụm hoa thường 2–3, đôi khi đến 5, thường dài hơn nhưng đôi khi ngắn hơn cụm hoa. Cụm hoa dạng tán đơn hoặc kép, gồm khoảng 3–10 nhánh, đôi khi chỉ 2 nhánh; các nhánh không đều nhau, dài đến khoảng 12 cm và xòe rộng. Mỗi nhánh mang cụm gồm 3–10 bông nhỏ sắp xếp tương đối thưa. Bông nhỏ mọc xiên, hình thuôn dài, dài 1–3 cm, rộng khoảng 1,5–2 mm, mang 8–28 hoa.

Mày hoa xếp lợp khá sít, hình trứng đến thuôn hình trứng, dài khoảng 3 mm; phần giữa màu xanh lục, hai bên màu đỏ sẫm đến nâu tím; có 5–7 gân, đỉnh nhọn đến tù. Hoa có 3 nhị; bao phấn hình thuôn dài. Vòi nhụy dài, mang 3 đầu nhụy. Quả bế hình trứng ngược–thuôn, có 3 cạnh, bề mặt có các điểm nhỏ.

Hương phụ biển – Cyperus stoloniferus Retz.

Cây thảo sống lâu năm, có thân rễ bò dài, tương đối to và cứng, tạo thành các củ hình elip đến hình trứng. Thân khí sinh mọc đơn độc, có tiết diện tam giác, nhẵn. Lá thường ngắn hơn thân, phiến rộng khoảng 2–4 mm, thường gấp dọc. Cụm hoa thường đơn, gồm khoảng 3–4 nhánh tương đối ngắn; mỗi nhánh mang các bông nhỏ tập trung khá sít. Bông nhỏ hình thuôn–trứng hẹp, dài khoảng 6–12 mm, mang khoảng 10–18 hoa. Mày hoa màu vàng đến vàng nâu, có thể pha màu đỏ nâu ở hai bên, phần giữa màu xanh. Quả bế khi chín màu nâu sẫm, hình elip đến gần hình trứng ngược, có 3 cạnh. Loài thường gặp ở những nơi ẩm và khu vực ven biển.

3. Đặc điểm giải phẫu (vi học)

Thân rễ: Theo DĐVN VI, vi phẫu thân rễ Hương phụ vườn và Hương phụ biển tương tự nhau.

Biểu bì gồm một hàng tế bào hình trái xoan, kích thước không đều. Hạ bì gồm 2–3 hàng tế bào thành dày, hình vuông hoặc hình chữ nhật; rải rác có các đám sợi hóa gỗ. Mô mềm vỏ gồm khoảng 20–30 hàng tế bào thành mỏng, hình hơi tròn hoặc trái xoan, xếp không đều; chứa nhiều hạt tinh bột và các tế bào tiết hình tròn hoặc nhiều cạnh. Trong mô mềm vỏ còn có các đám libe–gỗ, mỗi đám có mạch gỗ bao quanh libe.

Nội bì gồm một vòng tế bào nhỏ hình vuông, thành hơi dày. Trụ bì gồm một hàng tế bào hình chữ nhật, thành mỏng, nằm sát nội bì. Mô mềm ruột gồm các tế bào lớn, gần hình tròn, thành mỏng, chứa tinh bột và các đám libe–gỗ.

4. Đặc điểm bột dược liệu

Bột Hương phụ vườn có màu hồng nhạt; bột Hương phụ biển có màu trắng xám. Quan sát dưới kính hiển vi thấy: tế bào mô cứng hình chữ nhật hoặc nhiều cạnh, màu vàng nhạt, thành dày, có ống trao đổi rõ; tế bào tiết hình tròn hoặc bầu dục, chứa chất tiết màu vàng, xung quanh có 5–8 tế bào xếp tỏa ra đặc trưng; hạt tinh bột hình tròn hoặc bầu dục, kích thước khoảng 4–25 µm, rốn và vân không rõ; tế bào nội bì màu vàng, hình chữ nhật, thành dày; mảnh mạch vạch và mạch mạng.

5. Phân bố, sinh học và sinh thái

Cyperus rotundus có vùng phân bố tự nhiên rất rộng ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Cựu Thế giới, kéo dài đến Australia và hiện đã phân bố rộng ở nhiều khu vực khác trên thế giới. Cây thường gặp ở đồng ruộng, bãi cỏ, ven đường và những khu vực đất bị xáo trộn; khả năng sinh sản sinh dưỡng bằng thân rễ và củ rất mạnh. Việt Nam nằm trong vùng phân bố tự nhiên của loài.

Cyperus stoloniferus có vùng phân bố tự nhiên từ các đảo phía tây Ấn Độ Dương qua vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Á đến khu vực Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam. Loài thường gặp ở vùng đất ẩm, bãi cỏ và khu vực ven biển, gần mực nước biển.

6. Bộ phận dùng, thu hái, chế biến

Bộ phận dùng: Thân rễ đã loại bỏ rễ con và lông, được làm khô – Cyperi Rhizoma.

Theo DĐVN VI, Hương phụ được thu hoạch vào mùa thu. Sau khi thu hoạch, dược liệu được phơi khô, đốt loại thân, lá, lông và rễ con, sau đó rửa sạch và phơi khô.

Hương phụ đập vụn hoặc thái lát: Hương phụ đã làm sạch được đập vụn hoặc làm ẩm, ủ một đêm cho mềm, sau đó thái lát mỏng và sấy khô. Dùng sống.

Tứ chế Hương phụ: Hương phụ đã đập vụn được chia đều làm 4 phần: một phần tẩm nước muối 5%, một phần tẩm đồng tiện, một phần tẩm giấm và một phần tẩm rượu. Tẩm đủ ướt hoặc dùng khoảng 2 L dịch tẩm cho 10 kg Hương phụ; ủ riêng khoảng 12 giờ, sau đó sao hơi vàng và có mùi thơm rồi trộn đều bốn phần để dùng.

Khi dùng cho bệnh ở tỳ vị, có thể tẩm Hương phụ với nước gừng hoặc nước vo gạo rồi sao; cách này hiện ít dùng. Ngoài ra, DĐVN VI còn quy định Hương phụ thán sao, được chế theo phương pháp thán sao.

7. Thành phần hóa học

Thân rễ Hương phụ chứa tinh dầu, trong đó các sesquiterpenoid là nhóm thành phần quan trọng. Thành phần tinh dầu biến đổi đáng kể tùy nguồn gốc địa lý và kiểu hóa học; các cấu tử thường được ghi nhận gồm α-cyperone, cyperene, cyperotundone, β-selinene, caryophyllene oxide, isocyperol và nootkatone. Ngoài các thành phần bay hơi, C. rotundus còn chứa flavonoid, acid phenolic, phenylpropanoid, triterpenoid, steroid và nhiều nhóm hợp chất khác.

Các nghiên cứu về tinh dầu cho thấy thành phần thay đổi khá lớn giữa các chemotype. Một kiểu hóa học được ghi nhận ở Việt Nam và một số nước Đông Á có α-cyperone khoảng 30,7%, cyperotundone 19,4%, β-selinene 17,8%, cyperene 7,2% và cyperol 5,6%.

Theo DĐVN VI, dược liệu phải chứa ít nhất 0,5% tinh dầu, tính theo dược liệu khô kiệt; α-cyperone được sử dụng làm chất đối chiếu trong phép định tính sắc ký lớp mỏng.

8. Công dụng và cách dùng

Theo DĐVN VI, Hương phụ có công năng điều khí, khai uất, thông kinh, giảm đau, khu đờm, tiêu thực. Chủ trị các chứng rối loạn kinh nguyệt như rong kinh, lượng kinh nhiều hoặc ít, đau bụng khi hành kinh và kỳ kinh không đúng ngày.

Hương phụ dùng sống có tác dụng thông khí, tiêu đờm. Hương phụ tứ chế được dùng theo y học cổ truyền nhằm điều hòa khí huyết, thông kinh và trong các chứng thuộc can, thận. Hương phụ thán sao được dùng với mục đích cầm huyết, bổ hư.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 6–12 g, có thể dùng đến 16 g, dưới dạng thuốc sắc.

Kiêng kỵ: Người âm hư sinh huyết nhiệt không nên dùng.