
1. Tổng quan
Tên khác: Sung úy, Chói đèn.
Tên khoa học theo Dược điển Việt Nam VI: Leonurus japonicus Houtt.
Tên được POWO chấp nhận hiện nay: Paraleonurus japonicus (Houtt.) M.L.Qian, Y.P.Chen & C.L.Xiang.
Tên đồng nghĩa: Leonurus heterophyllus Sweet.
Họ: Lamiaceae (họ Hoa môi/Bạc hà).
Dược điển Việt Nam VI vẫn sử dụng tên Leonurus japonicus Houtt. cho nguồn dược liệu Ích mẫu (Leonuri japonici Herba). Theo hệ thống phân loại hiện hành của Plants of the World Online (POWO), Leonurus japonicus Houtt. và Leonurus heterophyllus Sweet được xếp là tên đồng nghĩa của Paraleonurus japonicus (Houtt.) M.L.Qian, Y.P.Chen & C.L.Xiang.
2. Mô tả
Cây thảo sống một năm hoặc hai năm, thường cao khoảng 30–120 cm. Thân mọc đứng, tiết diện gần vuông, có thể phân nhánh; thân, các đốt và cạnh thân phủ lông ngắn.
Lá mọc đối, hình dạng thay đổi rõ theo vị trí trên thân. Lá phía dưới có cuống tương đối dài; phiến lá hình trứng, gốc hình nêm rộng, xẻ sâu thành 3 thùy kiểu chân vịt; các thùy tiếp tục xẻ hoặc chia thành các phần nhỏ. Lá giữa thân thường có phiến hình thoi, xẻ sâu thành các thùy hẹp. Lá ở gần cụm hoa nhỏ dần, gần như không cuống, hình dải đến hình mác hẹp, mép nguyên hoặc có một số răng.
Cụm hoa gồm các xim co nhiều hoa mọc thành vòng ở nách lá; mỗi vòng thường mang khoảng 8–15 hoa. Hoa gần như không cuống. Đài hình ống–chuông, dài khoảng 6–8 mm, có 5 răng, đầu răng nhọn. Tràng dài khoảng 1–1,2 cm, màu trắng, hồng đỏ đến tím đỏ, có lông, chia hai môi; môi trên nguyên, hơi lõm; môi dưới có 3 thùy. Nhị 4.
Quả gồm 4 phân quả nhỏ; mỗi phân quả màu nâu, hình thuôn, có 3 cạnh rõ, dài khoảng 2,5 mm, đầu gần bằng và bề mặt nhẵn.
3. Đặc điểm giải phẫu (vi học)
Thân
Mặt cắt ngang gần hình vuông, bốn góc lồi. Biểu bì gồm một lớp tế bào hình chữ nhật, phía ngoài phủ cutin; mang lông che chở đa bào và lông tiết, trong đó lông che chở tập trung nhiều ở bốn góc. Lông tiết có chân đơn bào, đầu gồm 4–8 tế bào.
Mô dày phát triển mạnh ở bốn góc, gồm khoảng 6–10 hàng tế bào thành dày. Mô mềm vỏ gồm khoảng 3–4 hàng tế bào thành mỏng; sát libe có các đám sợi. Libe tạo thành vòng tương đối hẹp phía ngoài gỗ. Tầng phát sinh nằm giữa libe và gỗ. Mạch gỗ tương đối lớn, phân bố trong mô gỗ. Mô mềm ruột rộng, gồm các tế bào thành mỏng, kích thước tăng dần về phía trung tâm; một số tế bào chứa tinh thể calci oxalat dạng kim hoặc lăng trụ nhỏ.
Lá
Gân giữa: Biểu bì trên và dưới gồm một hàng tế bào, có lông che chở và lông tiết. Mô dày nằm sát hai lớp biểu bì, thường gồm 2–3 hàng tế bào. Mô mềm gồm các tế bào gần tròn, thành mỏng. Bó libe–gỗ chính tạo thành cung, gỗ ở phía trên và libe ở phía dưới; đôi khi cung chính phân thành nhiều cụm hoặc có thêm một cung libe–gỗ nhỏ phía trên.
Phiến lá: Biểu bì trên và dưới gồm một hàng tế bào; tế bào biểu bì trên thường lớn hơn tế bào biểu bì dưới. Cả hai mặt đều có lông che chở và lông tiết; lỗ khí có ở biểu bì dưới. Thịt lá gồm mô dậu và mô khuyết.
4. Đặc điểm bột dược liệu
Bột dược liệu màu lục xám. Quan sát dưới kính hiển vi thấy: lông che chở đa bào, hơi cong, thành dày, bề mặt có nhiều u nhỏ; lông tiết có chân rất ngắn, đầu gồm 4–8 tế bào, nhìn từ trên có dạng gần tròn hoặc elip; mảnh biểu bì mang lông che chở, lông tiết và lỗ khí; mảnh mạch có mạch xoắn và các lỗ trao đổi dạng thang; sợi thành dày thường tụ thành đám.
Hạt phấn gần hình cầu, đường kính khoảng 20–22 µm, có 3 rãnh, bề mặt có các chấm mờ. Có thể gặp các mảnh lá kèm mạch gỗ xoắn.
5. Phân bố, sinh học và sinh thái
Loài có vùng phân bố tự nhiên rộng ở châu Á, từ khu vực Himalaya, Trung Quốc và Viễn Đông Nga đến Đông Nam Á và Malesia; Việt Nam nằm trong vùng phân bố bản địa của loài. Cây cũng đã được du nhập và tự nhiên hóa ở nhiều vùng khác trên thế giới.
Ích mẫu thường mọc ở nơi có nhiều ánh sáng và đất bị xáo trộn như bãi đất trống, ven đường, ruộng bỏ hoang, bãi sông và các khu vực ẩm. Flora of China ghi nhận loài có thể sinh trưởng từ vùng thấp đến độ cao khoảng 3.400 m.
Ở Việt Nam, cây vừa mọc tự nhiên vừa được trồng để làm thuốc.
6. Bộ phận dùng, thu hái, chế biến
Bộ phận dùng chính: Phần trên mặt đất đã được làm khô – Leonuri japonici Herba.
Theo Dược điển Việt Nam VI, Ích mẫu được thu hái vào mùa hạ, khoảng tháng 4–6. Cắt phần trên mặt đất của cây, gồm thân, lá, hoa và quả, rửa sạch rồi phơi hoặc sấy khô.
Dược liệu có thể được chế thành:
-
Ích mẫu thái khúc: Dược liệu được rửa nhanh, ủ mềm, thái thành đoạn dài khoảng 3–4 cm rồi phơi hoặc sấy khô.
-
Ích mẫu tẩm rượu sao: Dùng khi cần đưa thuốc vào phần huyết.
-
Ích mẫu tẩm giấm sao: Có thể dùng khi cần đưa thuốc vào can theo yêu cầu của thầy thuốc hoặc bài thuốc.
-
Ích mẫu cũng được sử dụng để nấu cao đặc.
Quả Ích mẫu thường gọi là Sung úy tử. DĐVN VI ghi nhận Sung úy tử có thể dùng làm thuốc nhưng không phải là bộ phận dược liệu chính của chuyên luận Leonuri japonici Herba.
7. Thành phần hóa học
Ích mẫu chứa nhiều nhóm hợp chất thứ cấp, trong đó đáng chú ý nhất là alkaloid, diterpenoid, flavonoid, phenylethanoid glycoside, iridoid và một số hợp chất bay hơi. Hơn 200 hợp chất đã được báo cáo từ L. japonicus, trong đó alkaloid và diterpenoid là những nhóm được nghiên cứu nhiều.
Các alkaloid tiêu biểu gồm stachydrine và leonurine. Stachydrine đặc biệt quan trọng về kiểm nghiệm dược liệu: DĐVN VI sử dụng stachydrine hydrochloride làm chất đối chiếu trong định tính và quy định dược liệu phải chứa ít nhất 0,5% stachydrine hydrochloride, tính theo dược liệu khô kiệt.
Nhóm diterpenoid của Ích mẫu rất phong phú, đặc biệt là các dẫn chất labdane và spiro-labdane. Flavonoid và flavonoid glycoside cũng đã được phân lập từ phần trên mặt đất.
8. Tác dụng dược lý – Công dụng
Tác dụng dược lý: Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy dịch chiết Ích mẫu và một số hợp chất phân lập có tác dụng trên cơ trơn tử cung, cùng các hoạt tính chống viêm, chống oxy hóa, bảo vệ tim mạch và một số hoạt tính sinh học khác. Tuy nhiên, phần lớn bằng chứng cơ chế hiện nay đến từ nghiên cứu in vitro hoặc trên động vật, vì vậy không nên suy rộng toàn bộ các tác dụng của leonurine hoặc stachydrine thành hiệu quả điều trị của dược liệu ở người.
Đáng chú ý, nghiên cứu trên cơ tử cung chuột cô lập cho thấy một số alkaloid, trong đó có leonurine, có thể làm tăng co bóp cơ trơn tử cung; đồng thời một số thành phần khác của cây có thể có tác dụng khác nhau trên cơ tử cung. Điều này phù hợp với việc Ích mẫu từ lâu được sử dụng trong các bệnh lý phụ khoa, nhưng cũng là lý do cần thận trọng khi sử dụng trong thai kỳ.
Công dụng và cách dùng: Theo Dược điển Việt Nam VI, Ích mẫu có vị cay, hơi đắng, tính hàn, quy vào kinh can và tâm bào; có công năng hoạt huyết, thông kinh, ích tinh, sáng mắt, lợi tiểu. Dược liệu được dùng trong điều hòa kinh nguyệt, một số chứng liên quan đến thai sản, tiểu tiện không thông và mụn nhọt.
Ngày dùng 8–12 g, có thể dùng đến 16 g, dưới dạng thuốc sắc. Nếu dùng cao đặc, dùng theo liều của chế phẩm tương ứng.
Sung úy tử: DĐVN VI ghi Sung úy tử có các tác dụng tương tự và còn được dùng trong chứng phong nhiệt vào huyết gây rong kinh; liều dùng 6–8 g/ngày dưới dạng thuốc sắc.
Kiêng kỵ và thận trọng: Theo chuyên luận Ích mẫu của DĐVN VI, người không có huyết ứ hoặc tích nước không nên dùng. Do Ích mẫu và một số thành phần của cây có tác động lên cơ tử cung, phụ nữ có thai không nên tự ý sử dụng và cần được thầy thuốc đánh giá trước khi dùng.

