
1. Tổng quan
Tên khác: Muồng lác.
Tên khoa học: Senna alata (L.) Roxb.
Họ: Theo DĐVN VI: Caesalpiniaceae (họ Vang).
Theo POWO: Fabaceae (họ Đậu).
2. Mô tả
Cây bụi, thường cao khoảng 1,5–3 m, đôi khi có thể đến 5 m. Thân và cành tương đối mập, cành non có lông mịn.
Lá kép lông chim chẵn, dài khoảng 30–60 cm. Lá chét mọc đối, thường gồm 6–12 đôi, có thể nhiều hơn; lá chét hình thuôn đến bầu dục hoặc trứng ngược, dài khoảng 5–15 cm, rộng 2,5–7,5 cm, kích thước thường tăng dần về phía ngọn. Gốc lá chét hơi lệch, đầu tù hoặc hơi lõm, mép nguyên. Cuống lá chét rất ngắn. Mặt trên lá màu xanh đậm hơn mặt dưới.
Cụm hoa dạng chùm, mọc ở nách lá hoặc gần đầu cành, dài khoảng 15–50 cm, mang nhiều hoa sít nhau. Các lá bắc lớn màu vàng cam bao lấy nụ hoa và sớm rụng. Hoa màu vàng tươi.
Quả đậu dài khoảng 10–20 cm, có tiết diện gần vuông với các cánh chạy dọc theo quả, khi chín chuyển màu nâu sẫm đến đen. Mỗi quả chứa khoảng 50–60 hạt; hạt dẹt, hình tam giác đến hình thoi, màu nâu.
3. Đặc điểm giải phẫu (vi học)
Vi phẫu lá:
Gân giữa có mặt trên phẳng, mặt dưới lồi. Biểu bì trên và biểu bì dưới có lông che chở đơn bào ngắn, đầu nhọn; mật độ lông ở mặt dưới nhiều hơn. Các tế bào mô dày góc xếp thành từng đám nằm sát biểu bì. Mô mềm gồm các tế bào lớn, thành mỏng.
Một vòng mô cứng bao quanh cung libe-gỗ, tạo thành vòng kín hình tim. Cung libe-gỗ nằm giữa gân lá, hai đầu cung cuộn vào phía trong nhưng không giáp nhau. Libe gồm các đám tế bào nhỏ, xen kẽ với mô mềm libe có tế bào lớn hơn, tròn, thành mỏng. Phần gỗ gồm các tế bào có thành hóa gỗ, sắp xếp thành các bó.
Phía dưới vòng mô cứng, gần biểu bì dưới, có các tế bào mô mềm đặc xếp theo phần cung lồi của gân lá. Tinh thể calci oxalat hình khối nằm trong các tế bào mô mềm dọc theo cung mô cứng.
Ở phiến lá, biểu bì trên và dưới có lông che chở đơn bào ngắn, đầu nhọn; biểu bì có các u lồi cutin và lỗ khí. Sát biểu bì trên là mô giậu, chiếm khoảng một nửa bề dày phiến lá. Mô mềm phiến lá gồm các tế bào thành mỏng, có các khoảng gian bào; trong mô mềm có các bó libe-gỗ của gân phụ.
4. Đặc điểm bột dược liệu
Bột lá: Bột màu xanh đến xanh hơi vàng, xốp nhẹ. Quan sát dưới kính hiển vi thấy mảnh biểu bì phiến lá gồm các tế bào thành mỏng, ngoằn ngoèo, mang lông che chở đơn bào ngắn, đầu nhọn; lỗ khí kiểu song bào và các u lồi cutin. Mảnh biểu bì của cuống lá và gân lá có tế bào hình chữ nhật, mang lông che chở đơn bào. Có các mảnh lông đơn bào bị gãy, mảnh mô mềm, tinh thể calci oxalat hình khối nằm riêng lẻ hoặc trên sợi. Mảnh mạch gồm mạch điểm, mạch mạng, mạch xoắn và mạch vạch.
5. Phân bố, sinh học và sinh thái
Muồng trâu có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới châu Mỹ, từ tây nam Mexico qua Trung Mỹ, vùng Caribe đến Nam Mỹ. Hiện nay cây đã được du nhập và phân bố rộng rãi tại nhiều vùng nhiệt đới trên thế giới.
Ở Việt Nam, Muồng trâu là cây du nhập, hiện mọc tự nhiên hóa và được trồng ở nhiều nơi. Cây thường gặp ở đất trống, nương rẫy cũ, ven đường, gần sông suối và cũng được trồng trong các vườn thuốc hoặc làm hàng rào.
6. Bộ phận dùng, thu hái, chế biến
Dược liệu dùng là lá chét (Folium Sennae alatae).
Thu hoạch vào mùa hạ, hái lá, phơi âm can hoặc sấy nhẹ hay sao đến khô.
7. Thành phần hoá học
Muồng trâu chứa nhiều hợp chất phenol, trong đó đáng chú ý là các dẫn chất anthranoid và flavonoid.
Trong lá đã xác định được các anthraquinon như rhein, aloe-emodin, emodin và chrysophanol. Ngoài ra, các nghiên cứu trên những bộ phận khác nhau của cây còn ghi nhận nhiều flavonoid, cùng một số acid béo, steroid và terpenoid.
8. Tác dụng dược lý - Công dụng
Theo DĐVN VI, Muồng trâu có công năng nhuận tràng, lợi gan mật, tiêu độc, tiêu viêm, sát trùng và chỉ ngứa. Dùng trong trường hợp táo bón; dược liệu đã sao khô được dùng trong các trường hợp viêm gan, vàng da. Dùng ngoài chữa hắc lào, viêm da thần kinh và ngứa lở.
Các nghiên cứu hiện đại cho thấy cao chiết lá Muồng trâu có hoạt tính kháng nấm, đặc biệt đối với một số nấm gây bệnh ngoài da. Một số nghiên cứu trên người cũng đã ghi nhận tiềm năng của các chế phẩm từ lá trong điều trị các bệnh nấm da nông như lang ben và tinea imbricata. Tuy nhiên, bằng chứng lâm sàng hiện còn hạn chế và chưa thay thế các thuốc kháng nấm điều trị chuẩn.

