
1. Tổng quan
Tên khác: Nghệ đen, Ngải tím.
Tên khoa học: Curcuma zedoaria (Christm.) Roscoe. (DĐVN VI)
Họ: Zingiberaceae (họ Gừng).
2. Mô tả
Cây thảo sống lâu năm, có thân rễ, cao khoảng 1–1,5 m. Thân rễ phân nhánh, có mùi thơm đặc trưng; từ thân rễ phát sinh nhiều rễ, một số rễ phình to ở đầu tạo thành củ dự trữ hình trứng đến hình quả lê, bên trong màu trắng đến vàng nhạt.
Lá mọc thành bụi từ thân rễ. Phiến lá hình thuôn đến hình mũi mác, dài khoảng 30–70 cm, rộng 10–20 cm, đầu nhọn; mặt trên màu xanh, thường có một dải đỏ nâu hoặc tím chạy dọc hai bên gân giữa, dải màu có thể nhạt dần khi lá già.
Cụm hoa dạng bông, mọc riêng trên một chồi phát sinh từ thân rễ, thường xuất hiện trước hoặc cùng thời gian với lá. Lá bắc phía dưới màu xanh, các lá bắc phía trên tạo thành mào màu hồng đến tím. Hoa màu trắng đến vàng nhạt; cánh môi màu vàng, đầu hơi lõm; bầu có lông.
3. Đặc điểm giải phẫu (vi học)
Mặt cắt ngang thân rễ: Có một số lớp vỏ bao (chu bì); lớp vỏ rộng, có các bó mạch nhỏ và lớn nằm rải rác. Lớp tương tự nội bì gồm các tế bào thành mỏng. Phía trong có nhiều bó mạch không đều, tập trung sát trung trụ, gần như tạo thành vòng.
Trong mô mềm có các tế bào chứa tanin và các ống dầu lớn, dễ quan sát. Tế bào mô mềm chứa nhiều hạt tinh bột đơn; hạt tinh bột có rốn dạng điểm, nằm lệch tâm.
4. Đặc điểm bột dược liệu
Bột thân rễ: Bột màu vàng nâu, mùi thơm nhẹ, vị hăng, cay và đắng.
Quan sát dưới kính hiển vi thấy các mảnh mô mềm gồm những tế bào thành mỏng chứa hạt tinh bột. Đối với dược liệu đã đồ chín, nhiều hạt tinh bột bị hồ hóa nên không còn nhìn rõ vân và rốn. Có các mảnh mạch xoắn, mạch vạch và các bó sợi nhỏ.
5. Phân bố, sinh học và sinh thái
Nga truật có nguồn gốc ở khu vực Đông Himalaya đến Assam. Hiện nay cây được trồng và đã được du nhập vào nhiều vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Á, trong đó có Việt Nam.
Ở Việt Nam, cây được trồng làm dược liệu ở nhiều địa phương và có thể gặp ở vùng trung du, miền núi. Cây ưa khí hậu nóng ẩm, đất tơi xốp, đủ ẩm và có thể sinh trưởng ở nơi có ánh sáng đến hơi chịu bóng. Phần trên mặt đất phát triển vào mùa sinh trưởng và thường tàn lụi vào mùa đông.
6. Bộ phận dùng, thu hái, chế biến
Bộ phận dùng là thân rễ (Curcumae zedoariae Rhizoma).
Theo DĐVN VI, thân rễ được thu hoạch từ mùa đông đến cuối mùa xuân, khi phần trên mặt đất đã khô héo. Đào lấy thân rễ, loại bỏ rễ con và tạp chất, rửa sạch, sau đó phơi hoặc sấy khô.
Dược liệu có thân rễ hình trứng, dài khoảng 4–6 cm, đường kính 2,5–4 cm. Mặt ngoài màu nâu, vàng nâu, vàng xám đến nâu xám, có các mấu và vết sẹo rễ. Chất cứng như sừng, khó cắt. Mặt cắt ngang màu nâu xám, có một vòng màu nhạt hơn phân cách phần vỏ với trung trụ. Mùi thơm đặc trưng; vị mát, hăng, cay và đắng.
Khi dùng làm thuốc, dược liệu có thể được chế biến bằng cách tẩm giấm rồi sao khô theo phương pháp quy định.
7. Thành phần hoá học
Thân rễ Nga truật chứa tinh dầu với thành phần chủ yếu là các monoterpen và sesquiterpen. Các thành phần tiêu biểu đã được ghi nhận gồm curzerenone và epicurzerenone, 1,8-cineole, germacrone, curzerene, camphor, β-elemene, β-caryophyllene và zingiberene.
Ngoài tinh dầu, thân rễ còn chứa các sesquiterpenoid không bay hơi và một số curcuminoid, trong đó có curcumin. Tuy nhiên, thành phần và hàm lượng các hợp chất thay đổi đáng kể tùy nguồn gốc địa lý, giống cây và điều kiện sinh trưởng.
Theo DĐVN VI, hàm lượng tinh dầu của dược liệu không được thấp hơn 1,0% tính theo dược liệu khô kiệt.
8. Tác dụng dược lý - Công dụng
Theo y học cổ truyền, Nga truật có công năng hành khí, thông huyết, tiêu tích và chỉ thống. Dược liệu được dùng trong các trường hợp huyết tích gây đau bụng, bế kinh, thức ăn tích trệ, đầy đau bụng và một số rối loạn tiêu hóa.
Các nghiên cứu tiền lâm sàng trên cao chiết, tinh dầu và một số hợp chất phân lập từ Curcuma zedoaria đã ghi nhận các hoạt tính như chống viêm, chống oxy hóa, kháng vi sinh vật, ức chế kết tập tiểu cầu và gây độc trên một số dòng tế bào ung thư. Tuy nhiên, phần lớn các bằng chứng này mới ở mức in vitro hoặc trên động vật và chưa đủ để khẳng định hiệu quả điều trị tương ứng ở người.

