Nhảy đến nội dung

 

tt

1. Tổng quan

Tên khác: Tử tô.

Tên khoa học: Perilla frutescens (L.) Britton.

Họ: Lamiaceae (họ Hoa môi).

2. Mô tả

Cây thảo sống một năm, mọc đứng, thường cao khoảng 0,3–1,5 m, đôi khi có thể cao hơn. Toàn cây có mùi thơm đặc trưng.

Thân vuông, phân nhánh nhiều, màu xanh hoặc tím tía, có lông.

Lá đơn, mọc đối chéo chữ thập, có cuống. Phiến lá hình trứng rộng đến gần tròn, dài khoảng 4–13 cm, rộng 3–10 cm; gốc tròn hoặc hình nêm rộng, đầu nhọn; mép có răng cưa. Hai mặt lá có lông và nhiều tuyến tiết nhỏ. Màu sắc thay đổi tùy dạng trồng: có thể hai mặt đều màu tía, mặt trên xanh và mặt dưới tía, hoặc toàn bộ lá màu xanh.

Cụm hoa mọc ở nách lá phía trên hoặc đầu cành, dạng chùm hoặc chùy hẹp, gồm nhiều xim nhỏ. Hoa nhỏ, màu trắng đến tím nhạt; tràng hai môi. Nhị 4.

Bầu chia sâu thành 4 thùy. Sau khi trưởng thành tạo thành 4 quả nhỏ dạng quả bế, gần hình cầu, đường kính khoảng 1–1,5 mm, màu nâu xám đến nâu tía, bề mặt có vân mạng nổi.

Mỗi quả nhỏ chứa một hạt. Hạt màu trắng ngà, chứa nhiều dầu; khi nghiền có mùi thơm nhẹ và vị hơi cay.

3. Đặc điểm giải phẫu (vi học)

Gân lá

Biểu bì trên và dưới gồm một lớp tế bào nhỏ, hơi dẹt. Biểu bì dưới có nhiều lỗ khí.

Lông tiết nằm trong những vùng lõm của biểu bì. Lông che chở đa bào, gồm một dãy tế bào.

Mô dày tập trung ở những phần lồi của gân giữa. Mô mềm gồm các tế bào thành mỏng.

Bó libe–gỗ hình cung nằm giữa gân lá, gỗ ở phía trên và libe ở phía dưới.

Phiến lá

Mô giậu nằm ngay dưới biểu bì trên, chứa chất màu vàng và chiếm phần lớn chiều dày phía trên của phiến lá.

Mô khuyết mỏng hơn, nằm về phía biểu bì dưới.

4. Đặc điểm bột dược liệu

Bột lá

Bột màu nâu, có mùi thơm.

Soi dưới kính hiển vi thấy lông che chở đa bào, bề mặt lấm tấm; lông tiết có đầu đa bào và cuống rất ngắn.

Mảnh biểu bì trên và dưới gồm các tế bào có thành ngoằn ngoèo, có lỗ khí và lông tiết.

Mảnh phiến lá gồm những tế bào chứa diệp lục; có thể gặp các tinh thể calci oxalat hình cầu gai nhỏ.

Gặp các mảnh mạch mạng, mạch vòng và mạch xoắn.

Bột quả

Bột màu nâu xám.

Tế bào biểu bì của vỏ hạt ép dẹt khi nhìn ở mặt bên; khi nhìn từ bề mặt có dạng bầu dục, thành dày, cong queo, mang nhiều vết lõm hoặc vân khắc.

Các tế bào của lớp vỏ ngoài màu nâu vàng, dẹt khi nhìn ở mặt bên, thành mang nhiều u nhỏ; nhìn từ bề mặt gần tròn và có các vạch cutin nhỏ, hơi cong.

Tế bào đá của lớp vỏ quả trong có hình dạng không đều khi nhìn ở mặt bên; nhìn từ bề mặt gần đa giác, khoang tế bào hình sao.

Tế bào lá mầm gần hình chữ nhật, chứa đầy các giọt dầu.

5. Phân bố, sinh học và sinh thái

Theo POWO, Perilla frutescens phân bố tự nhiên rộng từ vùng Viễn Đông Nga qua Đông Á, Nam Á đến Đông Nam Á; Việt Nam nằm trong vùng phân bố tự nhiên của loài.

Tía tô được trồng phổ biến ở Việt Nam để làm rau gia vị và làm thuốc.

Cây ưa khí hậu ấm, tương đối ẩm và nơi có đủ ánh sáng. Cây sinh trưởng nhanh trong mùa nóng ẩm, ra hoa và kết quả rồi kết thúc vòng đời trong một năm.

6. Bộ phận dùng, thu hái, chế biến

Lá – Tô diệp, Tử tô diệp

Folium Perillae frutescensis

Dược liệu gồm lá, đôi khi có lẫn nhánh non, dùng tươi hoặc đã phơi, sấy khô.

Thu hái vào mùa hạ khi cành lá phát triển xanh tốt. Hái lá hoặc lá kèm nhánh non, loại bỏ lá sâu và tạp chất, phơi trong bóng râm hoặc sấy nhẹ đến khô.

Quả – Tô tử

Fructus Perillae frutescensis

Thu hoạch vào mùa thu khi quả đã chín già. Có thể cắt cả cây, phơi rồi đập lấy quả, loại bỏ tạp chất và phơi khô.

Khi dùng có thể dùng Tô tử sống hoặc sao nhỏ lửa đến khi có mùi thơm, sau đó giã dập.

Thân – Tô ngạnh

Caulis Perillae frutescensis

Thu vào mùa thu sau khi quả chín, bỏ lá và cành nhỏ, phơi hoặc sấy khô.

7. Thành phần hóa học

Lá

Lá Tía tô chứa tinh dầu, nhưng thành phần và tỷ lệ các cấu tử thay đổi đáng kể giữa các giống và chemotype.

Perillaldehyd là một trong những thành phần đặc trưng của nhiều dạng Tía tô dùng làm dược liệu. Ngoài ra còn có limonen, perilla alcohol, linalool và nhiều mono- hoặc sesquiterpen khác. Một số chemotype lại chứa hàm lượng cao perilla ketone hoặc các hợp chất bay hơi khác, vì vậy không nên xem perillaldehyd luôn là cấu tử chiếm ưu thế ở mọi mẫu Tía tô.

Nhóm hợp chất phenolic đáng chú ý gồm acid rosmarinic, acid caffeic, acid ferulic và các dẫn xuất của chúng.

Các flavonoid đã được ghi nhận gồm luteolin, apigenin, quercetin và các glycosid tương ứng.

Ngoài ra, lá còn chứa các triterpenoid như acid ursolic, acid oleanolic, acid tormentic và một số phytosterol.

Quả và hạt

Quả Tía tô chứa nhiều dầu béo. Dầu hạt giàu acid béo không no, đặc biệt acid α-linolenic, ngoài ra còn có acid linoleic và acid oleic.

Hạt cũng chứa protein, tocopherol, phytosterol và các hợp chất phenolic.

8. Tác dụng dược lý – Công dụng

Tác dụng dược lý

Các dịch chiết lá và một số thành phần như acid rosmarinic, perillaldehyd, luteolin và apigenin đã được nghiên cứu về tác dụng chống viêm, chống oxy hóa, chống dị ứng và kháng một số vi sinh vật trong các mô hình in vitro và trên động vật.

Dầu hạt Tía tô, với hàm lượng acid α-linolenic cao, cũng được nghiên cứu về các tác động liên quan đến chuyển hóa lipid và phản ứng viêm.

Tuy nhiên, phần lớn các dữ liệu này vẫn ở mức tiền lâm sàng hoặc dinh dưỡng.

Công dụng

Tô diệp

Theo y học cổ truyền có công năng giải biểu tán hàn, hành khí hòa vị, lý khí an thai.

Chủ trị: cảm mạo phong hàn, ho, khí suyễn kèm buồn nôn, phụ nữ có thai nôn mửa và một số trường hợp rối loạn tiêu hóa do ăn cua cá.

Ngày dùng 5–9 g dược liệu khô dưới dạng thuốc sắc. Dùng tươi với lượng thích hợp.

Tô tử

Có công năng giáng khí, tiêu đờm, bình suyễn, nhuận trường.

Chủ trị: ho, đờm suyễn, khí nghịch và táo bón.

Ngày dùng 3–9 g dưới dạng thuốc sắc.

Tô ngạnh

Có công năng lý khí, khoan trung, chỉ thống, an thai.

Chủ trị: khí uất vùng ngực và cơ hoành gây bí tức, đau vùng thượng vị, ợ hơi, nôn mửa và động thai.

Ngày dùng 5–9 g dưới dạng thuốc sắc.