Nhảy đến nội dung

 

tnhc

1. Tổng quan

Tên khác: Hoàng cung trinh nữ, Náng lá rộng, Tỏi lơi lá rộng.

Tên khoa học: Crinum latifolium L. (Theo DDVN VI)

Họ: Amaryllidaceae (họ Thủy tiên).

2. Mô tả

Cây thảo sống lâu năm, kích thước lớn. Thân hành gần hình cầu hoặc hình trứng thuôn, đường kính khoảng 8–10 cm hoặc hơn; gồm nhiều bẹ lá mọng xếp áp vào nhau. Phần bẹ ở gốc có thể mang màu đỏ tím.

Lá mọc tập trung từ thân hành, hình dải, thường dài 50–100 cm, rộng khoảng 3,5–10 cm; mép nguyên, hơi gợn sóng; gốc phẳng và tạo bẹ, đầu nhọn hoặc tù; gân lá song song. Mặt trên lá lõm nhẹ dọc gân giữa, mặt dưới có gân giữa nổi rõ.

Cụm hoa dạng tán mọc trên một cán hoa dẹt, dài khoảng 30–60 cm. Cụm thường gồm nhiều hoa, phía ngoài có hai lá bắc lớn.

Hoa có cuống ngắn; bao hoa màu trắng, thường phớt hồng hoặc đỏ tím ở mặt ngoài. Ống bao hoa dài, hơi cong; phía trên chia thành 6 phiến hình mác đến hình mác–thuôn, khi hoa nở các phiến có thể cong hoặc quăn ra phía ngoài. Nhị 6; bầu dưới.

Quả nang gần hình cầu nhưng tương đối ít gặp trên cây trồng ở Việt Nam.

Theo Flora of China, cây thường ra hoa khoảng tháng 6–8; tại Việt Nam thời gian ra hoa có thể kéo dài đến khoảng tháng 8–9 tùy vùng và điều kiện trồng.

3. Đặc điểm giải phẫu (vi học)

Vi phẫu lá

Biểu bì trên và dưới gồm các tế bào nhỏ hình vuông, thành ngoài dày hóa cutin, xếp tương đối đều thành hàng; rải rác có lỗ khí.

Mô giậu không rõ.

Ở phần phiến lá, mỗi gân phụ gồm một bó libe–gỗ, có khoảng 2–3 mạch gỗ cùng với libe xếp theo hướng vuông góc với bề mặt biểu bì.

Xen kẽ giữa các bó libe–gỗ là những khoảng mô khuyết; phía trên các mô khuyết thường có những đám sợi.

Mô mềm gồm các tế bào thành mỏng, kích thước không đều.

Phần gân chính có cấu tạo tương tự gân phụ nhưng bó libe–gỗ lớn hơn. Ở phần lồi, sát biểu bì dưới có một đám mô dày.

4. Đặc điểm bột dược liệu

Bột lá

Bột màu nâu nhạt, có mùi đặc trưng, vị hơi đắng.

Soi dưới kính hiển vi thấy các mảnh biểu bì mang lỗ khí; một số mảnh biểu bì có lớp cutin lồi.

Có nhiều mảnh mạch vòng–điểm, đôi khi đan chéo vào nhau; ngoài ra gặp mạch vạch và những mảnh mạch xếp thưa đặc trưng.

Tinh thể calci oxalat hình kim, thường bị gãy, đứng riêng lẻ hoặc tụ lại thành từng đám.

5. Phân bố, sinh học và sinh thái

Theo POWO, Crinum latifolium phân bố tự nhiên từ Ấn Độ, Sri Lanka và Bangladesh qua Myanmar, Thái Lan, Lào, Việt Nam đến miền nam Trung Quốc.

Ở Việt Nam, cây vừa thuộc vùng phân bố tự nhiên vừa được trồng làm cây thuốc và cây cảnh ở nhiều địa phương. Trước đây cây được trồng nhiều từ miền Trung trở vào Nam, sau đó được gây trồng rộng hơn ở các tỉnh phía Bắc.

Trinh nữ hoàng cung là cây ưa ẩm, ưa sáng nhưng có thể chịu bóng một phần. Cây sinh trưởng tốt trong điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng ẩm và đất thoát nước tốt; sinh trưởng mạnh vào mùa xuân–hè.

Cây có thể ra hoa hàng năm. Khả năng đậu quả và tạo hạt ở cây trồng tại Việt Nam thường thấp; vì vậy cây chủ yếu được nhân giống sinh dưỡng bằng thân hành con.

6. Bộ phận dùng, thu hái, chế biến

Lá – Crini latifolii Folium

Lá là bộ phận dược liệu có chuyên luận trong Dược điển Việt Nam VI.

Thu hái lá từ khoảng tháng 4–9, loại bỏ lá vàng úa và tạp chất, phơi trong bóng râm hoặc sấy ở 40–50 °C đến khô.

Khi dùng, cắt lá thành đoạn khoảng 3–5 cm; có thể sao vàng.

Thân hành – Bulbus Crini latifolii

Thân hành cũng được sử dụng trong một số bài thuốc và kinh nghiệm dân gian, đặc biệt theo đường dùng ngoài nhưng chưa phải là dược liệu được quy định trong DĐVN VI.

7. Thành phần hóa học

Trinh nữ hoàng cung chứa nhiều alkaloid đặc trưng của họ Amaryllidaceae.

Alkaloid

Các alkaloid đã được phân lập từ lá hoặc thân hành gồm lycorine, crinine, crinamidine, crinamine, augustamine, undulatine, ambelline, filifoline, perlolyrine và nhiều dẫn xuất thuộc các nhóm crinine, lycorine và các kiểu khung alkaloid Amaryllidaceae khác.

Các nghiên cứu gần đây tiếp tục phát hiện thêm nhiều alkaloid mới. Nghiên cứu trên thân hành công bố năm 2024 đã phân lập hơn 40 alkaloid đã biết hoặc mới, trong khi nghiên cứu năm 2026 trên cây thu tại Việt Nam tiếp tục phát hiện một alkaloid mới cùng nhiều alkaloid Amaryllidaceae đã biết.

Flavonoid

Lá chứa các flavonoid như astragalin và isoquercitrin cùng một số flavonoid khác.

Polysaccharid

Thân hành đã được ghi nhận chứa các polysaccharid, trong đó một số tài liệu Việt Nam mô tả các glucan.

Nhìn chung, alkaloid Amaryllidaceae là nhóm thành phần hóa học đặc trưng và được nghiên cứu nhiều nhất của Crinum latifolium.

8. Tác dụng dược lý – Công dụng

Tác dụng dược lý

Các dịch chiết và alkaloid của Crinum latifolium đã được nghiên cứu khá nhiều ở mức in vitro và tiền lâm sàng.

Dịch chiết lá và một số alkaloid có khả năng ức chế tăng sinh tế bào trong các mô hình thực nghiệm. Một số alkaloid phân lập từ cây biểu hiện hoạt tính gây độc tế bào trên các dòng tế bào ung thư, chống viêm, kháng vi sinh vật hoặc ức chế cholinesterase. Các kết quả này chủ yếu là dữ liệu in vitro.

Theo hướng phì đại lành tính tuyến tiền liệt, dịch chiết ethanol của lá đã cho thấy khả năng ức chế tăng sinh tế bào mô đệm tuyến tiền liệt trong mô hình in vitro.

Ở Việt Nam cũng đã có một số nghiên cứu lâm sàng với chế phẩm chuẩn hóa từ Trinh nữ hoàng cung. Một nghiên cứu không đối chứng trên 65 bệnh nhân phì đại lành tính tuyến tiền liệt điều trị bằng Crila trong 8 tuần ghi nhận giảm điểm IPSS và giảm thể tích tuyến tiền liệt. Tuy nhiên, do thiết kế không có nhóm đối chứng và quy mô còn hạn chế, kết quả này chưa đủ để xác định chắc chắn mức hiệu quả so với điều trị chuẩn hoặc placebo.

Đối với u xơ tử cung, có một số báo cáo nghiên cứu Việt Nam trước đây về chế phẩm từ Trinh nữ hoàng cung, nhưng dữ liệu công bố có đối chứng và chất lượng cao còn hạn chế.

Công dụng

Theo Dược điển Việt Nam, Trinh nữ hoàng cung có vị đắng, chát, tính ôn; quy kinh Thận và Bàng quang.

Công năng: Thanh huyết tán ứ, tiêu thũng, chỉ thống.

Chủ trị: Chứng chưng thũng, viêm hầu họng, thũng độc, rắn cắn, đau do ngã (trong dân gian dùng), phì đại tiền liệt tuyến, u vú, u tử cung, u dạ dày thể lành tính.

Ngày dùng 10-15 g lá khô, sắc cách thủy, dùng độc vị.

Dùng ngoài: Lá tươi hoặc thân hành được hơ hoặc sao nóng rồi dùng xoa, đắp tại vùng sưng đau do thấp khớp hoặc chấn thương.

Kiêng kỵ: Không phải chứng hạ tiêu thũng độc, không viêm hầu họng không dùng