
1. Tổng quan
Tên khác: Vối.
Tên khoa học:
Theo Dược điển Việt Nam V: Cleistocalyx operculatus (Roxb.) Merr. & L.M.Perry.
Theo POWO: Syzygium nervosum DC.
Họ: Myrtaceae (họ Sim).
Lưu ý danh pháp: Theo POWO hiện nay, Cleistocalyx operculatus (Roxb.) Merr. & L.M.Perry là đồng danh của Syzygium nervosum DC.
2. Mô tả
Cây gỗ thường xanh, phân cành nhiều, có thể cao khoảng 5–15 m. Vỏ thân màu nâu xám, tương đối dày. Cành non hơi dẹt hoặc có khía, sau gần hình trụ và nhẵn.
Lá đơn, mọc đối. Cuống lá dài khoảng 1–2 cm. Phiến lá hình thuôn đến hình elip, đôi khi hình trứng rộng, dài khoảng 8–20 cm, rộng 4,5–10 cm; chất lá dai, hơi dày. Gốc lá hình nêm rộng đến hơi tròn, đầu nhọn hoặc có mũi nhọn. Hai mặt lá có nhiều điểm tuyến nhỏ; gân bên nhiều, khá rõ.
Cụm hoa dạng chùy hoặc xim-chùy, mọc ở bên cành, thường tại nách những lá đã rụng, dài khoảng 6–12 cm. Hoa gần như không cuống, nhỏ, màu trắng đến trắng lục.
Nụ hoa hình bầu dục, hai đầu hơi thuôn, dài khoảng 4–6 mm, rộng 2–3,5 mm. Theo mô tả dược liệu DĐVN V, nụ khô màu vàng nâu; đài hình chuông, màu xám, dài khoảng 1/3–1/2 chiều dài hoa, phía trên chia thành 4 răng nông. Nụ có mùi thơm đặc trưng và vị hơi chát.
Quả gần hình cầu đến hình trứng rộng, khi chín chuyển màu tím sẫm đến đen, dài khoảng 10–12 mm và rộng khoảng 10–14 mm.
Lá, cành non và nụ hoa khi vò có mùi thơm đặc trưng.
3. Đặc điểm giải phẫu (vi học)
Gân lá
Biểu bì trên và biểu bì dưới gồm một hàng tế bào nhỏ xếp tương đối đều, phía ngoài có lớp cutin dày.
Mô mềm gồm các tế bào gần tròn, thành mỏng, kích thước không đều. Trong mô mềm có các túi tiết tinh dầu nằm gần lớp biểu bì.
Một vòng mô cứng gần như liên tục bao quanh bó libe–gỗ.
Bó libe–gỗ hình cung, libe bao quanh phía ngoài gỗ. Trong libe có các tinh thể calci oxalat hình cầu gai nằm rải rác.
Phần gỗ gồm các mạch gỗ; có thể gặp 1–2 bó mạch nhỏ nằm tách rời gần bó mạch chính hình cung.
Phiến lá
Biểu bì trên và biểu bì dưới gồm một hàng tế bào nhỏ, phía ngoài phủ lớp cutin dày.
Mô giậu gồm một hàng tế bào xếp vuông góc với biểu bì trên.
Mô mềm gồm các tế bào gần tròn, kích thước không đều, thành mỏng.
Sát biểu bì dưới có lớp hạ bì gồm khoảng 2–3 hàng tế bào nhỏ.
4. Đặc điểm bột dược liệu
Bột lá
Bột màu nâu, vị chát.
Soi dưới kính hiển vi thấy các mảnh mô mềm, túi tiết tinh dầu, mảnh mạch xoắn, sợi đứng riêng lẻ hoặc tập hợp thành bó, tinh thể calci oxalat hình cầu gai và các tế bào mô cứng hình nhiều cạnh, thành dày.
Bột nụ hoa
Bột màu vàng nhạt.
Soi dưới kính hiển vi thấy lông che chở; mảnh mô mềm gồm các tế bào hình đa giác; hạt phấn hình cầu có 3 lỗ rãnh; mảnh cánh hoa; mạch xoắn và các mảnh mạch.
5. Phân bố, sinh học và sinh thái
Theo POWO, Syzygium nervosum phân bố tự nhiên rộng từ vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Á đến miền bắc Australia. Việt Nam nằm trong vùng phân bố tự nhiên của loài.
Cây thường gặp trong rừng ẩm, ven sông suối và những nơi có đất tương đối ẩm; đồng thời được trồng rộng rãi.
Ở Việt Nam, Vối được trồng tại nhiều địa phương, đặc biệt để lấy lá và nụ pha hoặc nấu nước uống.
Cây ưa khí hậu nóng ẩm, sinh trưởng tốt ở nơi có ánh sáng và đất đủ ẩm.
6. Bộ phận dùng, thu hái, chế biến
Lá Vối – Folium Cleistocalysis operculati
Theo DĐVN V, dược liệu là lá đã phơi hoặc sấy khô của cây Vối.
Thu hái lá bánh tẻ, loại bỏ tạp chất.
Theo cách bào chế trong DĐVN V, lá được ngâm trong nước sạch khoảng 20–30 phút, vớt ra và phơi đến khi lá tái, còn độ ẩm khoảng 50%. Sau đó ủ khoảng 30 phút đến 1 giờ để lá chuyển hơi vàng và xuất hiện mùi thơm, rồi tiếp tục phơi khô.
Khi dùng có thể cắt thành đoạn nhỏ hoặc tán bột thô.
Nụ Vối – Flos Cleistocalysis operculati
Dược liệu là nụ hoa đã phơi hoặc sấy nhẹ đến khô.
Thu hái các cành mang nụ hoa, rửa hoặc ngâm trong nước sạch, để khô se rồi tuốt lấy nụ. Phơi đến khi còn khoảng 50% độ ẩm, ủ 30 phút đến 1 giờ để tạo màu hơi vàng và mùi thơm đặc trưng, sau đó tiếp tục phơi khô.
Nụ thành phẩm có màu xám vàng, mùi thơm đặc trưng và vị hơi chát.
7. Thành phần hóa học
Thành phần hóa học của Syzygium nervosum khá phong phú và thay đổi theo bộ phận cây. Các nhóm đáng chú ý gồm triterpenoid, flavonoid và các dẫn xuất phloroglucinol–terpenoid.
Lá
Các triterpenoid đã được phân lập gồm cleistocalyxin, các cleistocalyxic acid, acid ursolic, acid oleanolic, acid betulinic, acid maslinic, acid arjunolic và một số triterpenoid thuộc các khung taraxastane, oleanane, ursane, lupane và multiflorane.
Cleistocalyxin là một triterpenoid kiểu taraxastane được phân lập trực tiếp từ lá.
Các flavonoid và hợp chất liên quan đã ghi nhận gồm kaempferol, quercetin và các dẫn xuất khác.
Một hợp chất đáng chú ý khác là 2′,4′-dihydroxy-6′-methoxy-3′,5′-dimethylchalcone (DMC), đã được phân lập từ lá và nụ.
Nụ hoa
Nụ hoa chứa nhiều flavonoid, trong đó đã phân lập được quercetin, kaempferol, tamarixetin và các dẫn xuất methyl hóa của myricetin.
Ngoài ra, nụ chứa các hợp chất phloroglucinol–terpenoid phức tạp, trong đó cleistocaltone A và cleistocaltone B là những hợp chất tiêu biểu.
Hariganetin đã được phân lập từ hạt của một taxon thuộc nhóm Syzygium nervosum và thuộc nhóm flavonoid; không nên xếp chất này vào nhóm phloroglucinol hoặc xem là thành phần đặc trưng của lá và nụ Vối dùng làm dược liệu.
8. Tác dụng dược lý – Công dụng
Tác dụng dược lý
Cao chiết từ lá và nụ Vối thể hiện hoạt tính chống oxy hóa trong các thử nghiệm in vitro.
Dịch chiết lá đã cho thấy khả năng ức chế enzym α-glucosidase in vitro. Một số cao chiết từ lá và nụ cũng có khả năng ức chế Helicobacter pylori trong các thử nghiệm vi sinh.
Các flavonoid và hợp chất phenolic phân lập từ nụ đã được nghiên cứu về khả năng ức chế acetylcholinesterase và butyrylcholinesterase.
Một số triterpenoid từ lá có tác dụng chống viêm hoặc gây độc tế bào trên các mô hình in vitro. Cleistocaltone A cũng được nghiên cứu về hoạt tính kháng virus hợp bào hô hấp trong các hệ thử nghiệm tiền lâm sàng.
Tinh dầu lá đã cho thấy hoạt tính kháng Staphylococcus aureus và hỗ trợ lành vết bỏng trong mô hình động vật.
Công dụng
Lá Vối
Theo DĐVN V, Lá Vối có vị đắng, chát, tính hàn; quy kinh Tỳ, Vị.
Công năng: giải biểu, khử thấp, hóa trệ, tiêu thực, sát trùng.
Chủ trị: ăn uống kém tiêu, đầy bụng, đau bụng, lỵ.
Dùng ngoài: nấu nước rửa vết thương, mụn nhọt, lở ngứa.
Ngày dùng 16–20 g dưới dạng thuốc sắc hoặc chè, uống lúc nóng.
Kiêng dùng ở người tỳ vị hư hàn, tiêu chảy.
Nụ Vối
Theo DĐVN V, Nụ Vối có vị đắng, chát, tính hàn; quy kinh Tỳ, Vị, Phế, Thận.
Công năng: khử thấp, hóa trệ, kích thích tiêu hóa, giải phiền khát, sát trùng.
Chủ trị: ăn uống kém tiêu, đầy bụng, viêm dạ dày–ruột cấp, lỵ trực tràng và tiểu đường.
Dùng ngoài: nấu nước rửa vết thương, mụn nhọt và lở ngứa.
Ngày dùng 8–12 g dưới dạng thuốc sắc hoặc chè, uống lúc nóng.
Kiêng dùng ở người tỳ vị hư hàn, tiêu chảy.

